Thằng gánh nước Deschamps

Eric Catona khi ở thời đỉnh cao của mình đã gọi Deschamps bằng nickname có nhạo báng: thằng gánh nước của đội tuyển. Ý nói nhiệm vụ của Deschamps là thu hồi bóng rồi trả bóng ra xung quanh cho các đồng đội biết cách xử lý tiếp với trái bóng.

Đội Pháp của Deschamps ở chung kết World Cup năm nay đá cực kỳ giống Juventus thời đỉnh cao.

Đội Juvetus đá thế này. Nó đá nhì nhằng cả trận, nhìn cứ như rập rình ở cửa dưới, sắp sửa dính bàn thua đến nơi. Thế mà không có cách gì ăn được nó. Hóa ra nó vừa đá vừa toan tính rất kỹ. Rồi mỗi khi có cơ hội bé tí, nó chuyển sang tấn công, như một đợt bùng phát mãnh liệt, rất nguy hiểm. Nhưng chỉ được chừng chưa đến một phút là nó lại quay lại đá nhì nhằng, xem rất chán và sốt ruột. Thế nhưng, cả trận tẻ nhạt như thế, đến phút 80 tỷ số là 0-0, đến phút 90 thì Juventus thắng 2-0. Thế mới tài.

Để đá được như thế chất lượng cầu thủ phải rất tốt: vừa vững kỹ thuật, vừa thạo chiến thuật, lại cực kỳ tuân thủ nghiêm túc kỷ luật chiến thuật, không ai có cái tôi cao hơn đội bóng. Đội tuyển quốc gia thường có chất lượng cầu thủ khó mà bằng câu lạc bộ nhà giàu, lý do là đội tuyển quốc gia không thể vung tiền ra mua các ngôi sao mình muốn và phù hợp với lối chơi của đội. Nhưng năm nay đội Pháp thì khác, hơi nhiều sao.

Lưu ý là Pháp của Deschamps ở World Cup lần trước bị loại vì thua Đức, sau đó bạn Đức này vô địch. Còn ở Euro cách đây 2 năm, Pháp của Deschamps vào đến chung kết và thua Bồ.

Croatia cũng không phải tay vừa. Nước bé tí, chưa đến 5 triệu dân. Tách ra thành nước độc lập năm 1991, thế mà năm 1998 đã lần đầu vào chung kết World Cup. Đội lúc đó có 2 ngôi sao. Một là Boban, các fan của AC Milan ở Hà Nội lúc bấy giờ rất đông và đều biết anh này. Hai là Suker, đá cho Real. Cả hai anh này đều có cúp C1. Trong trận gặp Pháp, Suker ghi bàn trước. Pháp gỡ 2 bàn nhờ Thuram, cầu thủ cả đời không ghi bàn cho đội tuyển. Sau trận này thì Pháp vào chung kết và vô địch, còn Croatia tranh 3-4 và đoạt giải 3. Tiếp tục đọc

Advertisements
Đăng tải tại nhảm | Thẻ , , , , , ,

Tái bản: Bầu trời chiều ẩn giấu (ebook)

Anh ngồi, viết những mẩu giấy nhỏ
Chưa bao giờ em biết
Vì anh chẳng gửi đi 

Lời bài hát “Lại một bài tình ca nữa” của nhóm Gạt Tàn Đầy –

Hát cho những tháng ngày khó khăn, em biết đi tìm thức ăn, cho cả anh 

Em lại gần đây anh hát cho nghe, hát cho những đêm đông khó khăn
Em đến bên ai đắp chăn mà ngủ quên

Lời bài hát “Cho” của nhóm Ngọt –

 

Tôi mới “tái bản”, “có sửa chữa và bổ sung”, cuốn Bầu trời chiều ẩn giấu. Các bạn có thể download (miễn phí): bản để đọc trên thiết bị di động ở đây, và bản để in ra giấy ở đây. Cám ơn Long Trần một lần nữa gia công ebook này.

Để tiện cho những bạn đã đọc phiên bản trước, tôi list ra dưới đây các bổ sung và số trang kèm theo.

Lúc đầu tôi chỉ định sửa chữa các sai sót của cuốn sách. Nhưng rồi lỡ tay viết thêm có hai câu ngắn về năm diệu kỳ của Einstein, nên thành ra phải bổ sung thêm khá nhiều đoạn vào nhiều chỗ khác nhau trong cuốn sách.

Đó là năm 1905, Einstein lúc này mới 26 tuổi, đăng liền tù tì 4 bài báo khoa học. Ba trong 4 bài này đều xứng đáng đoạt khoảng 30 giải Nobel Vật lý (và triết học, nếu có giải Nobel như vậy).

Bài đầu tiên là công trình nghiên cứu của Einstein về hiệu ứng quang điện. Bài này góp phần đặt nền tảng cho vật lý lượng tử, và là công trình mang lại cho Einstein giải Nobel. Bài thứ ba là thuyết tương đối hẹp (đến nay vẫn là thuyết khó hiểu nhất của Einstein). Bài thứ tư là quan hệ vật chất khối lượng với phương trình E=mc2 nổi tiếng. (Xem trang: cuối 13 và đầu 14.)

Từ đoạn bổ sung ngắn ngắn này, đâm ra phải viết thêm vài đoạn nữa. Xin liệt kê dưới đây để bạn những bạn đã đọc edition cũ nhanh chóng dò tìm những đoạn được bổ sung.

+ Đoạn về Minkowski, thầy giáo hồi đại học của Eintstein. Minkowski là người hoàn thiện thuyết tương đối hẹp vào năm 1908 (nay được biết với tên “không gian Minkowski”). Trong đoạn này có nói đến Null Geodesics, một khái niệm quan trọng của spacetime. (Trang 41 và 42.)

+ Một đoạn dài về de Broglie, người sử dụng hiệu ứng quang điện và thuyết tương đối hẹp để phát triển lý thuyết lượng tử của mình, trong đó có công trình đoạt giải Nobel, và một công trình về sau được David Bohm tiếp nối. (Xem trang 20 và 21.)

+ de Broglie liên quan đến thí nghiệm khe hẹp với photon đơn và giao thoa electron, nên vài thông tin về hai thí nghiệm này cũng đã được thêm vào.

+ Do thuyết Broglie-Bohm liên quan đến John Bell, một siêu nhân được các bạn đam mê Phật pháp quan tâm, nên có bổ sung một đoạn ngắn về John Bell và thực nghiệm của Alan Aspect (là lý thuyết và thực nghiệm chứng minh lượng tử là phi định xứ). (Xem trang 21.)

+ Rồi tính phi định xứ sau này lại bị một số nhà vật lý, ví dụ Leonard Susskind, bác bỏ bằng chứng minh toán học, trong lúc các nhà vật lý khác, như Roger Penrose vẫn thấy ok. Các quan điểm khác nhau này đều được thêm vào rải rác trong cuốn sách. (Xem trang 21.) Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , ,

Pháp quyền, pháp trị, pháp gì?

Bản “Yêu sách của nhân dân Annam”, do Nguyễn Ai Quốc ký thay mặt dân thuộc địa, bản chính được viết bằng tiếng Pháp, xuất hiện khoảng giữa năm 1919. Bản tiếng Việt cũng của Nguyễn Ái Quốc, diễn nôm thành văn lục-bát. Trong đó, yêu sách thứ bảy được viết: “Bảy xin hiến pháp ban hành/Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Có người diễn giải chữ “thần linh” là “Bác” muốn nói “pháp quyền” là luật tự nhiên, của tạo hóa, là quyền con người, đứng cao hơn tất thảy. Thực ra “thần linh” chỉ là cách chuyển ngữ của Nguyễn Ái Quốc từ chữ “spirit” mà thôi. Nếu sinh ở thời này, hẳn Nguyễn Ái Quốc sẽ dịch là “tinh thần pháp quyền”.

Trên trang Luật Khoa tạp chí có một bài dài tìm hiểu về cách dịch khái nhiệm rule of lawrule by law sang tiếng Việt như thế nào mới là đúng. Tên bài là “Rule of Law, không phải ‘pháp quyền’ cũng chả phải ‘pháp trị’.”

Hóa ra vấn đề dịch thuật ngữ này rất lằng nhằng, nhiều học giả cãi nhau như mổ bò, và ngại nhất là các lý luận của họ đôi chỗ rối như canh hẹ. Chưa hết, bài viết này cho ta biết hóa ra bên Tàu họ cũng gặp các vấn đề tương tự.

Mọi người có thể đọc bài ấy ở đây.

*

Càng ngày tôi càng tin rằng tính cách dân tộc quyết định rất nhiều đến sự phát triển của một quốc gia dân tộc (nation). Tính cách ấy thể hiện trong từng cá nhân (như nghệ sĩ, nhà khoa học, hay lãnh đạo thì) bằng hình thức “cá tính”.

Với những người lãnh đạo, cái quan trọng không phải là trình độ học vấn (bởi nếu không có, lãnh đạo có thể dùng quân sư), không phải là đạo đức (bởi giới hạn của đạo đức rất mập mờ, lãnh đạo đừng quá vô đạo là được), mà là cá tính. Cá tính không vay mượn hay thuê mướn được. Cứng cỏi, dám đối đầu khó khăn, dám quyết, dám làm, dám cải cách chống lại cả một đám đông u tối và bảo thủ, dám nhìn xa, dám làm cái lớn, dám dẫn dắt xã hội, quốc gia đến những bến đỗ mới: đó là cá tính, và phải có cá tính mới làm được.

Với xã hội, cái quan trọng nhất là kỷ cương. Một cá nhân cần có tự do để phát triển tối đa bản thân. Nhưng không phải là thứ tự do của thú hoang, của chim trời cá bể. Mà là một thứ tự do mà trong đó có không gian để các cá nhân thực hành tự do: tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do học thuật. Một tập thể, gồm nhiều cá nhân đơn lẻ muốn, cứng cỏi và mạnh mẽ, cần phải có kỷ luật. Giống như một đội bóng mạnh không phải vì các cá nhân tự do thể hiện tài năng riêng mình, mà là do một tập thể cầu thủ tài năng và tuân thủ chặt chẽ kỷ luật chiến thuật. Và quan trọng hơn, đó là họ đá với nhiều đội bóng khác, trong một giải đấu, mà tất cả cùng phải tuân thủ luật chơi chung.

Một xã hội muốn yên ổn, hài hòa, có hiệu suất sử dụng nguồn lực cao, ai cũng có vị trí của riêng mình và mọi người tôn trọng lẫn nhau, xã hội ấy cần kỷ cương. Kỷ cương triệt tiêu tính cách xấu của dân tộc, điều chính tính cách xấu của cá nhân, hạn chế phung phí nguồn lực xã hội vào các chuyện vụn vặt vô nghĩa (từ kẹt xe ngoài đường, ăn cắp giờ công sở đến cãi nhau liên tu bất tận trên facebook).

Một quốc gia phát triển không nhất thiết phải có một dân tộc ai cũng thông minh và giàu tri thức. Cái mà quốc gia ấy cần là một xã hội có kỷ cương. Kỷ cương ấy để bảo vệ các nguồn lực xã hội vốn rất giới hạn, để bảo vệ đa dạng sinh học, cạnh tranh lành mạnh, để bảo vệ tự do cá nhân và nuôi dưỡng tính cách tốt của cả dân tộc.

*

Hồi bé tôi có đọc một cuốn sách về các nhà sáng chế. Sách kể chuyện về các nhân vật lừng danh kiểu như Thomas Edison. Những sách kiểu này ngày xưa chủ yếu là dịch hoặc phóng tác từ các sách khoa học phổ thông, sách danh nhân của Pháp, rồi sau này là sách Nga.

Trong sách có nói đến ông Benjamin Franklin. Ông này nghiên cứu hiện tượng sét đánh bằng cách thả các con diều lên trời. Nhờ đó ông ấy sáng chế ra cái cột thu lôi. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ sách nói rằng cái sáng chế ấy thành công đến mức trở thành thời thượng, các quý ông đỏm dáng ở Paris tay cầm ô, đầu đội mũ chóp, đều gắn một cái que kim loại giống như cột thu lôi. Sách cũng nói ông Franklin còn làm đại sứ Mỹ ở Paris.

*

Trong Tuyên ngôn độc lập 1945, người sáng lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có trích dẫn một câu từ Tuyên ngôn độc lập của Mỹ. Tuyên ngôn nổi tiếng của Mỹ này do Thomas Jefferson viết. (Có thể đọc bài về việc ấy ở đây).

Một nhóm nhỏ vài người Mỹ lãnh đạo cuộc đấu tranh đưa nước Mỹ từ thuộc địa của Anh trở thành quốc gia độc lập, họ cùng nhau ký vào Tuyên ngôn độc lập, cùng nhau ký vào Hiến pháp Mỹ. Họ được dân Mỹ gọi là những người lập quốc (founder), rồi sau này nâng lên là các cha già lập quốc (founding fathers). Trong số đó có Thomas Jefferson, người thành tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ. Ông Benjamin Franklin, người nghĩ ra cột thu lôi, là cũng là nhân vật số hai sau Washington trong cuộc cách mạng Mỹ, và được bầu làm tổng thống thứ sáu của Pennsylvania (chức danh tổng thống/president này sau đổi thành thống đốc/governer, là người đứng đầu nhánh hành pháp kiêm tổng tư lệnh quân đội tiểu bang). Chân dung ông Franklin ở Việt Nam ta ai cũng biết, bởi được in trên tờ 100 dollar.

*

Tôi có xem giáo sư Leonard Susskind giảng về thuyết tương đối hẹpthuyết trường cổ điển. Phần thuyết trường điện từ Maxwell kết hợp với thuyết tương đối hẹp, ắt hẳn phải giảng về định lý Gauss (phương trình liên tục). Phương trình ngắn gọn này bao gồm hai đại lượng là mật độ điện tích và mật độ dòng điện. Ký hiệu là ρ (đọc là rho) và j. Susskind nói hai ký hiệu toán học này là do Benjamin Franklin đặt ra. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , ,

Bức xạ của Hawking

Bài này là một chương trong cuốn Bầu trời chiều ẩn giấu (bản 2018). Các bạn có thể download (miễn phí) cuốn sách này: bản để đọc trên thiết bị di động ở đây, và bản để in ra giấy ở đây

*

Phát kiến “Lỗ đen không đen hoàn toàn” và nhiều hiểu biết vật lý sâu sắc khác của Stephen Hawking đã tạo ra các đột phá trong vật lý vũ trụ.

*

**

Stephen Hawking bắt đầu học vật lý ở đại học Oxford khi mới 17 tuổi, trẻ hơn hầu hết các sinh viên cùng khóa. Nhờ trí óc vượt trội, tính trung bình anh chỉ học khoảng một giờ một ngày trong suốt thời gian học đại học. Vào năm cuối cùng ở đại học, anh có triệu chứng của một người già vụng về, hay bị ngã khi đi cầu thang. Đi khám bệnh, bác sĩ chẩn đoán là do uống bia, yêu cầu anh phải ngừng nhậu nhẹt.

Năm 21 tuổi, sau khi tốt nghiệp hạng ưu và chuyển qua làm nghiên cứu sinh, các bác sĩ chẩn đoán Hawking mắc chứng bệnh nan y: xơ cứng teo cơ. Họ dự đoán anh chỉ còn hai năm để sống.

Người thanh niên trẻ trung, có khiếu hài hước và đặc biệt thông minh ấy bắt đầu sống từng ngày của hai năm cuối cùng của cuộc đời trong sự lạnh lẽo tối tăm không hạnh phúc, không niềm vui của chứng trầm cảm. Tình cờ anh gặp Jane Wilde trong một tiệc năm mới. Họ yêu nhau. Tình yêu của Jane kéo Stephen lên khỏi vực sâu trầm cảm và đặt anh trở lại công việc nghiên cứu khoa học.

Thế rồi họ lấy nhau, họ cần tiền để sống, và sự nghiệp khoa học của Stephen Hawking bắt đầu rẽ sang hướng khác.

*

**

Ngành vũ trụ học hiện đại ra đời sau khi Einstein công bố thuyết tương đối tổng quát năm 1915. Đến cuối những năm 1950, ngành này vẫn còn chập chững, và hiểu biết của các nhà vật lý, cả lý thuyết lẫn thực nghiệm vẫn còn khá giới hạn. Qua thập niên 1960, các nhà vật lý bắt đầu có những bước tiến mới nhưng họ chưa đạt được đồng thuận về nhiều vấn đề.

Mặc dù nghiệm Big Bang của phương trình thuyết tương đối Einstein đã được nhà vật lý xô viết Alexander Friedmann tìm ra trong quãng thời gian 1922-1924 nhưng nhiều nhà vật lý, nhất là các nhà vật lý xô viết, vẫn tìm cách từ chối hoặc né tránh thuyết Big Bang, tức là không công nhận vũ trụ và thời gian có điểm khởi đầu (quan niệm vật lý truyền thống cho rằng thời gian không có khởi đầu và không có kết thúc, vô thủy vô chung).

Tương tự như vậy, nghiệm lỗ đen được nhà thiên văn học người Đức Karl Schwarzschild tìm ra năm 1916 bằng cách giải hệ phương trình của Einstein, và cũng có khá nhiều nhà vật lý công bố các công trình nghiên cứu về lỗ đen từ trước khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, nhưng rất nhiều nhà vật lý châu Âu cho đến tận đầu những năm 1970 vẫn không tin vào sự tồn tại của lỗ đen. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đời | Thẻ , , , , , , , , , , , , , ,

Miếng ăn

Hôm nay trên mạng lan truyền một cái ảnh, không rõ thật hay fake, chụp các đồng chí anh nuôi bày bếp dầu nấu ăn trên boong chiến hạm, dưới đít tên lửa.

Miếng ăn, là miếng tồi tàn. Miếng ăn, là miếng nhục. Không phải tự nhiên các cụ nói vậy.

Dân mình, thấy miếng ăn ở khắp mọi nơi.

Các sự kiện quan trọng nhất trong đời một con người, vui hay buồn, đều phải có ăn: ăn hỏi, ăn cưới, ăn sinh nhật, ăn đám ma, ăn giỗ.

Các lễ lạt trong năm, có tính chu kỳ, năm nào cũng có và cũng ăn: ăn rằm, ăn Tết.

Ngày xưa ra đường làng gặp nhau, thay câu chào, là câu hỏi: ăn chưa, cơm nước gì chưa?

Nói chuyện liên quan đến mồm, có chữ “ăn” đã đành: ăn nói. Mặc quần áo cũng phải dính đến ăn: ăn mặc. Học hành cũng phải ăn: ăn học. Thậm chí chuyện chịch nhau cũng phải có ăn: ăn nằm.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm, phát triển | Thẻ , , , , , , , ,

Chuyện phải lòng

Chữ “trái tim” dịch ra tiếng Anh là “heart”. Chữ “heart” dịch ngược ra tiếng Việt lại thành chữ “lòng”. Thế mới tài.

Ví dụ “golden heart” dịch ra tiếng ta là “tấm lòng vàng”, “learn by heart” dịch thành “học thuộc lòng”, “from bottom of my heart” thì dịch là “từ tận đáy lòng”, “win someone’s heart” có nghĩa là “được lòng ai đó”. Có rất nhiều ví dụ như vậy, từ trái tim đến cỗ lòng, là một con đường rất vãi.

Nghĩa của chữ “lòng” rất uyển chuyển, có thể diễn đạt mọi sắc thái tâm lý tình cảm, từ ruột non đến ruột già, ra cả đến hậu môn.

Ai đó dễ bị người khác thuyết phục, gọi là “dễ mềm lòng”. Những người lý trí mạnh, khó thuyết phục, gọi là “cứng lòng”. Ủy mị một chút là “dễ động lòng”. Không chân thành với tình cảm của chính mình là “dối lòng”. Tình cảm đổi thay đích thị “thay lòng”.

Cởi mở tâm sự của mình với ai đó gọi là “mở lòng”. Đồng ý với ai đó gọi là “bằng lòng”. Rủ nhau cùng làm gì đó thì phải “đồng lòng” mới xong.

Gặp ai đó mà thích ngay, gọi là “phải lòng”. Chưa ngỏ được lời thì cứ thấy “rối ở trong lòng”. Thế rồi “xao xuyến mãi ở trong lòng” đến lúc cũng phải “tỏ lòng” mình ra. Đến khi yêu rồi, yêu thì ở trong tim, mà diễn đạt thành lời, gọi là “đem lòng yêu nhau”. Xa nhau thì nhớ “nao lòng”. Lúc nào cũng thấy “nóng lòng” gặp nhau. Để lâu thì nhớ “cháy lòng”. Gặp nhau một phát áp lòng vào nhau, xong xuôi nằm thở, “dốc lòng” với nhau. Rồi mới mặc quần áo chia tay, bịn rịn như “nát cả cõi lòng” đến nơi.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm | Thẻ ,

Kể những chuyện tình

Cả bốn chuyện tình (ba tình yêu, một tình bạn) dưới đây đều được dịch bằng google translate từ Anh sang Việt (và edit qua loa bằng tay).

*

Chuyện thứ nhất

b8651dd7041641520cabe3b9f10dd1bf

Họ gặp nhau trên phố Paris. Anh lẽo đẽo theo nàng tới chỗ làm.

Sau này anh kể, đó là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên.

Bấy giờ là năm 1893 và anh chỉ là một họa sĩ hậu ấn tượng non nớt mới được biết đến với những khung hình âu yếm và riêng tư.

Tên nàng là Marthe. Lúc đầu nàng nói dối anh cả tên lẫn tuổi. Nàng yếm thế, ưa lánh đời, và bị một căn bệnh buộc nàng phải tắm suốt ngày.

Vẻ lặng lẽ né tránh cuộc đời của nàng trở thành chủ đề trong tranh của anh suốt nửa thế kỷ, kể từ lúc họ quen nhau.

Anh là họa sĩ Pháp Pierre Bonnard.

Anh vẽ nàng, chủ yếu bằng ký ức, và bằng những bức ảnh chụp nàng lúc riêng tư. Trong tranh anh, nàng không bao giờ già đi. Anh vẽ nàng trong buồng tắm, trong buồng ngủ, và trong vườn. Anh vẽ nàng ngập tràn trong ánh sáng vàng son êm ả và màu sắc rực rỡ của cầu vồng.

Anh tan nát cõi lòng khi nàng chết, năm 1942. Trong thư gửi bạn mình là Henri Matisse, anh viết : “Anh có thể tưởng tượng được nỗi tiếc thương và sự cô đơn của tôi, chất chồng vị đắng và nỗi đau của cuộc đời mà tôi từ nay phải sống.” Tiếp tục đọc

Đăng tải tại gái | Thẻ , , , , , , ,

Nobel Vật Lý 2017: Đang mở ra những thế giới chưa từng thấy!

Năm 1916 nhà bác học Albert Einstein nói ông tin vào sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Năm nay, 101 năm sau phát biểu của Einstein, giải Nobel Vật Lý được trao cho  Rainer Weiss, Barry C. Barish và Kip S. Thorne vì đã phát hiện ra được sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Trong thông báo về giải thưởng, Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy điển nói về giải Nobel Vật lý 2017 năm nay: “Đây là một thứ hoàn toàn mới và khác biệt, đang mở ra những thế giới chưa từng thấy.”

(Bài trích từ sách Bầu trời chiều ẩn giấu, bài trích này cũng đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số tuần này, tức tuần công bố giải Nobel 2017). Link download sách, bản ebook định dạng pdf ở đây, và bản để in ở đây).

*

Năm 1916, một nhà vật lý người đức, lúc này đang sĩ quan pháo binh trên mặt trận Nga, tên là Karl Schwarzschild, đã giải các phương trình tensor của Einstein và tìm ra một nghiệm kỳ lạ. Theo nghiệm này, xung các ngôi sao có khối lượng cực lớn có một không quyển kỳ ảo (magical sphere). Tất cả mọi thứ, kể cả ánh sáng, khi đi vào không quyển này sẽ bị hút vào ngôi sao khổng lồ và không có cách nào thoát ra được. Schwarzschild còn tính toán được bán kính của không quyển kỳ ảo này. Bán kính này được gọi là bán kính Schwarzschild  hoặc bán kính hấp dẫn (gravitational radius).

main-qimg-16937fefd7824b98e56b9a657bbb311b-c

Schwarzschild qua đời trên mặt trận Nga và không biết rằng mình đã tìm ra một thứ, về sau được John Wheeler đặt tên: Hố Đen (Black Hole). Không quyển ma quái mà Schwarzschild tìm ra, ngày nay được gọi là Chân trời sự kiện (event hoziron), hàm ý đấy là nơi xa nhất mà  tầm mắt của người quan sát có thể với tới (sau chân trời là hố đen, nơi mà ánh sáng nếu vươn tới sẽ bị nuốt vào và không bao giờ trở lại).

main-qimg-a1f5c6d5455ada34815c84f510aa5877

Cũng năm 1916, Einstein đề xuất sự tồn tại của một sóng gọi là sóng hẫp dẫn, một loại sóng mang lực hấp dẫn lan truyền trong không gian với vận tốc bằng vận tốc ánh sáng. Einstein đã tìm thấy sóng trên lý thuyết bằng cách giải các phương trình của mình, cũng như dự báo các ngôi sao đôi quay quanh một trục chung sẽ dần sát lại với nhau để rồi lao vào nhau do năng lượng mất dần do bị bức xạ vào không gian dưới dạng sóng hấp dẫn.

Để biết chi tiết hơn, xem bài Tiếng vọng từ sáng thế.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách | Thẻ , , , , ,

Phim Vietnam War, ông Duẩn, ông Nhu, ông Giáp

Thế chiến thứ hai có một trận đánh cực kỳ dài và khốc liệt giữa liên quân phe trục do Phát xít Đức lãnh đạo và quân Liên Xô. Đó là trận Stalingrad. Trận đánh đẫm máu này làm phe Đức chết khoảng gần 1 triệu lính, bên Liên Xô chết khoảng hơn 1 triệu lính.

Nhận xét về phía ý thức hệ của trận đánh này, có người nói đây là trận đánh của phe Hegel cánh hữu (nước Đức theo chủ nghĩa phát xít) đánh nhau với Hegel cánh tả (nước Nga theo chủ nghĩa Stalin).

Đầu những năm 1960, cả ông Nhu và ông Duẩn đều hiểu nếu hai miền thực sự phải đối đầu bằng quân sự chính quy, thì Nam Việt Nam với đường lối cánh hữu nhuốm màu phát xít mới của ông Nhu sẽ phải đánh nhau bằng chiến tranh quy ước với Bắc Việt Nam lúc này đầy chất Stalin. Ông Nhu đi tới thỏa hiệp, bí mật gặp gỡ phe miền bắc để đàm phán, rồi bị Mỹ giật dây lật đổ và sát hại. Có thể xem bài này, search theo từ khóa Lou Conein để biết quá trình Mỹ dựng và lật đổ đệ nhất cộng hòa ở Nam Việt Nam, và nếu có thời gian xem bài này về ông Nhu.

Trong phim Vietnam War của Ken Burns, khoảng tập 5, sẽ thấy thời kỳ trước khi Diệm và Nhu bị lật đổ, ông Duẩn và quân đội của ông đã rất tin vào thành công của việc thống nhất hai miền bằng vũ trang trong tương lai rất gần. Điều này rất hiện thực, và có thể đó là lý do chính để ông Nhu bí mật đàm phán với miền bắc.

Tiếp theo, phim Vietnam War cho thấy cái chết của Diệm-Nhu, rồi cái chết của Kennedy, dẫn đến việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam năm 1965 (Diệm chống Mỹ đưa quân vào, Kennedy thì không mặn mà việc đưa quân sang, sau khi hai vị tổng thống này bị sát hại, Johnson đưa quân đến Việt Nam). Việc quân Mỹ vào Việt Nam đã làm đảo lộn kế hoạch của ông Duẩn. Trước một bàn cờ thế hoàn toàn mới, ông Duẩn đã buộc phải chơi những nước cờ hoàn toàn khác.

Trong tập 6, 7 và 8 của Vietnam War, những trận đánh của Lê Duẩn, mà đỉnh điểm là trận Mậu Thân và các trận tiểu Mậu Thân sau đó, đã dẫn đến hiệp định Paris. Những diễn biến này và tác động của nó đến Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, trừ trận Quảng Trị, được nói khá rõ trong phim. Có vẻ như nhìn từ phía Mỹ, trận Quảng Trị không liên quan nhiều đến đàm phán Paris, thay vào đó họ đề cao giá trị vụ dùng B-52 ném bom Hà Nội Noel 1972 nhiều hơn. Họ cho rằng nhờ vụ ném bom tàn khốc này mà phía Bắc Việt Nam quay lại ký hiệp định. (Phía Việt Nam lại cho rằng nhờ đánh Quảng Trị mà Mỹ xuống thang).

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phim, sách | Thẻ , , , , , , , , , , , , ,

Màu rực rỡ của Lũng Luông

Cách nay hơn năm, đợt đó chuẩn bị khai trương công trình trường Lũng Luông, tôi cũng tham gia đoàn của Cơm Có Thịt đi lên Lũng Luông để “nghiệm thu” công trình. Lúc đó ảnh chụp ngôi trường này đã có trên youtube. Trước khi đi, bạn bè bảo: anh lên xem sao cái trường cho tiểu học mà làm màu lòe loẹt như mẫu giáo, lại còn làm ở mái.

Trường Lũng Luông nằm ở đỉnh một ngọn núi nhỏ. Chỗ đấy giống như đỉnh một quả đồi, khá bằng phẳng, tròn trịa. Từ trường có một vài đường mòn nhỏ tỏa ra thung lũng xung quanh, rồi ngược lên các triền núi bên cạnh. Học sinh đi theo các đường mòn đó đến trường. Leo theo các đường mòn đó, thi thoảng đứng lại, có thể nhìn xuống trường. Từ xa, và trên cao, có thể nhìn rõ cái mái trường “lòe loẹt” ấy.

Hôm đó trời mưa, anh Hào, là cái anh kiến trúc sư xây cái trường này, cứ cầm ô đi che cho thằng con trai tôi, mới 5 tuổi, hì hụi lội bùn đi theo các bác. Tôi hỏi anh Hào, sao anh làm cái mái màu sắc rực rỡ thế. Anh Hào bảo: Lúc xây trường này, mấy tháng liền mùa đông và mùa mưa phùn, cảnh vật ảm đạm lắm em ạ, anh quyết định làm cái mái như thế, nó như đốm lửa nhỏ giữa cảnh núi rừng mùa đông rét mướt.

Cái mái trường này, không phải sơn xanh phết đỏ lên tôn, mà là cái tôn tự nó có màu như thế. Theo như tôi hiểu thì tôn này là do bên Hoa Sen tài trợ, họ làm tôn và gửi từ nam ra cho anh Hào.

*

Dự án Lũng Luông tôi cho là một sự “tình cờ”. Hồi đó anh Châu nhận làm chủ tịch danh dự quỹ Cơm Có Thịt. Quỹ tổ chức một chuyến đi, có ba đoàn khác nhau cùng đi. Tôi bám càng đoàn của anh Châu và anh Vũ Hà Văn. Gọi là đoàn giáo sư. Hai đoàn còn lại một đoàn của anh Tuấn, và một đoàn lên tới Lũng Luông tôi mới biết là đoàn của cô Phượng. Cô Phượng tôi nhớ hôm đó không giống như trong ảnh hehehe, vì cô ăn mặc như sinh viên mới ra trường, đại khái quần cộc áo bỏ ngoài quần, đi giày thể thao, đội mũ, nhảy phắt một phát từ trên xe ô tô xuống đường.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đạo, đời | Thẻ