Oiseaux, Galilei, Mendeleev

RM2

Trong ảnh là trường Les Oiseaux trước năm 1975!

Trần Lệ Xuân (1924-2011) sinh ra trong gia đình khá đặc biệt. Ông nội là tổng đốc Nam Định Trần Văn Thông, ông ngoại là thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề. Cả hai ông trước khi làm quan to đều là Giám đốc Trường Hậu Bổ Hà Nội (trường đào tạo quan chức hành chính, dạy cả Hán văn lẫn Pháp văn, tốt nghiệp ra được bổ làm tri huyện). Bà nội Trần Lệ Xuân là em ruột Bùi Quang Chiêu. Bùi Quang Chiêu là người thành lập Đảng Lập Hiến và là người mở tờ báo La Tribune Indigène cùng Nguyễn Phú Khai. Nguyễn Phú Khai là bố của bà Thụy Nga (Bảy Vân), người vợ miền nam của ông Ba Duẩn. Sau CMT8, Bùi Quang Chiêu lúc này 70 tuổi bị giết cùng các con của mình.

Bố của Trần Lệ Xuân là ông là Trần Văn Chương. Ông này hơn Ngô Đình Nhu khoảng một giáp, và rất thích sự học giỏi giang của ông Nhu. Ông Chương được đi du học, có bằng luật sư, rồi trở về Sài Gòn hành nghề. Hai con gái của ông là Lệ Chi và Lệ Xuân giai đoạn này được gửi đi học ở Couvent des Oiseaux trên Đà Lạt. Đây là trường nữ sinh, dành cho quý tộc Đông Dương.

Nam Phương Hoàng Hậu hồi còn là con gái thì đi học ở  Couvent des Oiseaux bên Pháp. Khi bà làm hoàng hậu, vua Bảo Đại hiến tặng một khu đất ở Đà Lạt (Hoàng triều cương thổ) để xây trường Couvent des Oiseaux Đà Lạt. Một thời gian sau, ông Chương chuyển ra Hà Nội, Trần Lệ Xuân ra theo. Lúc này Les Oiseaux đã có cơ sở Hà Nội, tên là Notre Dame du Rosaire ở đường Thành (digue Parreau), trên khu đất thuộc làng Vĩnh Phúc, nằm liền kề làng Liễu Giai và làng Đại Yên, nay là Hoàng Hoa Thám (Đại chủng viện Xuân Bích cũng ở gần khu đất này, nằm trên đất làng Liễu Giai, nay là khu Quần Ngựa). Trần Lệ Xuân đi học có lái xe riêng và cô sen theo hầu. Từ Couvent des Oiseaux cô chuyển qua học Albert Sarreau, lấy tú tài nhất năm 17 tuổi thì bỏ học lấy chồng.

NDRosaireLacordaire

Năm 1946, cô Xuân lúc này 22 tuổi, vì nạn Việt Minh mà phải bỏ trốn vào Sài Gòn, rồi lên Đà Lạt.

Đến năm 1952, người vợ trẻ Trần Lệ Xuân sau nhiều năm nuôi ông chồng trí thức trùm mền ở Đà Lạt, bắt đầu rơi vào cảnh kiệt quệ tài chính. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sống, đời | Thẻ , , , , , , , , , , , , , ,

Về một cuốn sách của Lê Nin

Không phải bỗng dưng chủ nghĩa Marx trở thành học thuyết chính thống của cách mạng vô sản, nó cần một ai đó sử dụng nó để hành động. Con người hành động ấy, cũng không chỉ đơn giản là đi phát động một cuộc cách mạng. Ông ấy còn phải biết lý luận. Lý luận ấy phải viết thành sách. Tên nhà cách mạng ấy là Lenin, còn tên cuốn sách trong tiếng Việt là “Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”. Bản tiếng Anh có tên “Materialism and Empirio-criticism. Critical Comments on a Reactionary Philosophy“. Ai quan tâm có thể đọc ở đây.

Cuốn sách này được coi là tác phẩm lý luận quan trọng nhất với cách mạng vô sản toàn thế giới. Chưa kể nó là hạt giống đầu tiên để đưa “tính đảng” vào trong nghiên cứu khoa học. Không chỉ khoa học xã hội, mà cả khoa học tự nhiên. Nghiên cứu vật lý lý thuyết, hay làm bom nguyên tử cũng phải có tính đảng. Đó là nhờ siêu phẩm này của Lê Nin.

Nếu chịu khó đọc tiểu luận (rất ngắn) này, hoặc nhìn vào tên tiếng Anh của nó, ta cũng có thể đoán thêm được các khái niệm quen thuộc ở Việt Nam như “phản động”, “suy thoái tư tưởng”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có nguồn gốc từ trước tác này của Lê Nin.

*

Lenin sinh năm 1870, lớn hơn Einstein (sinh năm 1879) chín tuổi, và hơn vua Hàm Nghi của chúng ta một tuổi. Lúc sinh ra ông chưa phải là Lenin đâu, thế mới tài, bởi khi lớn rồi ông mới tự chọn nick Lenin cho mình để làm cách mạng.

Năm Lenin 16 tuổi thì bố chết. Năm 17 tuổi thì anh ruột bị Nga Hoàng tử hình. Ông nói: từ nay ta sẽ đi theo con đường khác. Con đường khác đó là con đường mà chủ nghĩa Marx chỉ ra, còn cậu bé tuổi teen Lenin, lúc đó vẫn chưa phải là Lenin,  là người nhiệt tình học hỏi rồi tham gia phổ biến vào nước Nga suốt một thời gian dài cho đến năm 27 tuổi mới thôi. Lý do là năm đó ông bị Nga Hoàng bắt bỏ tù. Tội của ông là dám làm một nhà hoạt động Marxist quá nổi bật.

Ra tù năm 1900, khoảng 30 tuổi, Lenin ra nước ngoài sống lưu vong và tham gia đảng Lao Động Dân chủ Xã hội Nga. Ở đây, do đường lối cực tả (radical) của mình, chẳng may ông làm cho Đảng này bị chia rẽ. (Việc chia rẽ này, là do một cuốn sách mỏng của Lenin có tên Những việc cần phải làm. Trong cuốn sách này, Lenin cho rằng giai cấp cần lao không chỉ đấu tranh về tiền lương và giờ làm với giới chủ, mà cần thành lập chính đảng, có tính tiền phong, tuyên truyền chủ nghĩa Marx và làm cách mạng, nắm quyền lực, và tiêu diệt kẻ thù giai cấp. Một phiên bản thô sơ, cùng trích dẫn của cuốn sách này, chính là cuốn Đường Kách Mệnh). Phe của Lenin đông hơn. Với vài chiêu thức toán xác suất căn bản, ông đề xuất phương pháp “đa số cai trị thiểu số, thiểu số phục tùng đa số”. Phương pháp bỏ phiếu này ở VN có tên gọi “tập trung dân chủ”.  Đa số, tiếng Nga là bol’sheviki, là tiền thân của Đảng cộng sản Nga,  phiên âm tiếng Việt là Bôn Sê Vích. Nay còn gọi tắt là Bôn, với ý nghĩa khác.

Đến giai đoạn 1907-1908, trong phái Bolshevik ở hải ngoại thế quái nào lại nảy nòi ra một nhà lãnh đạo nổi bật, lấn át cả Lenin. Tên ông ta là Bogdanov. Ông ta cũng theo chủ nghĩa Marx, tất nhiên rồi. Vậy nên Lenin ghét lắm, và chụp cho luôn rằng ông này rằng đã là một tay Mác Xít mà lại dám suy thoái tư tưởng, tự diễn biến, và trở thành một tên phản động, duy tâm, tiểu tư sản. Lenin không phê phán bằng mồm. Ông viết hẳn một cuốn sách nhỏ để làm việc này. Đây chính là cuốn sách mà ta đã nói ở trên. Cuốn này về thể loại thì tiếng Anh gọi là “pamphlet”, còn bản tiếng Việt họ gọi là “Bút ký triết học của Lenin”, hoặc “Bút chiến của Lenin”.

*

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách | Thẻ , , , , , , , , , , , ,

Hội An, Kẻ Chàm, Nước Mặn

(Bài này chỉ là một bản tóm tắt theo dòng thời gian giai đoạn phôi thai chữ quốc ngữ, dựa theo một vài tư liệu chính, còn các văn bản gốc, tức ảnh chụp từ lưu trữ văn khố bên Nhà Mẹ ở Rome, thực ra rất khó đọc, khó đoán, nhất là các văn bản viết tay chữ lí nhí, mờ tịt, câu văn thì không có chấm phảy như tiếng Việt hiện nay, đọc cũng rất khó hiểu).

Hội An (Hải Phố) thời đầu những năm 1600, nói theo ngôn ngữ bây giờ, là một đặc khu cả về hành chính lẫn kinh tế của nước Đàng Trong. “Phố Biển” này là một thương cảng rất quan trọng để kết nối Macau, Nagasaki (Nhật) và Malacca.

Chúa Tiên Nguyễn Hoàng thành lập dinh trấn Quảng Nam vào khoảng năm 1602 và cử hoàng tử thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ dinh này. Khi Nguyễn Phúc Nguyên lên ngôi “Chúa”, ông cử con trai mình là Nguyễn Phúc Kỳ làm trấn thủ dinh Quảng Nam. Như vậy, với nước Đàng Trong khi ấy, Quảng Nam chắc chắn có vai trò cực kỳ quan trọng, tương đương vai trò của Sài Gòn với Việt Nam bây giờ.

Đặc khu Hội An có hai khu phố buôn, một của người Nhật (phố Nhật), và một của người Hoa (phố Khách). Chúa Nguyễn giao quyền cai trị (trưởng phố) khu người Nhật cho một thương gia Nhật, và trao khu người Hoa cho một thương gia Hoa. Các thương gia châu Âu như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha cũng được giao cho người Nhật quản lý.

Kém quan trọng hơn Hội An một chút là thương cảng Cửa Hàn (Đà Nẵng) và Nước Mặn (Quy Nhơn).

*

Cuối những năm 1500, các dòng Phan Sinh (Franciscan), dòng Đa Minh (Dominican), và dòng Âu Tinh (Augustine) đã vào Đàng Trong thông qua các cửa biển Cần Cạo (Hà Tiên), Cửa Hàn. Họ đến Hà Tiên chỉ để đi qua đất Cambodia, hoặc đến Cửa Hàn để phục vụ thương nhân ngoại quốc ở Đàng Trong. Giai đoạn này họ chưa quan tâm nhiều đến việc truyền giáo cho người bản xứ.

Khoảng năm 1614, ở Nhật bắt đầu cấm đạo và bế quan, các thương gia và dân có đạo ở Nhật chuyển đến sống ở Hội An. Các linh mục truyền giáo của Dòng Tên đang hoạt động ở Nhật cũng buộc phải rời nước này. Họ bắt đầu di chuyển qua lại giữa Macao/Malacca (là hai nơi đặt trụ sở của tỉnh dòng) với Hội An và Nhật Bản (hai vùng đang được truyền giáo). Lý do Hội An trở nên nổi bật là do tuyến đường đi từ Malacca (nơi Dòng Tên, do vua Bồ Đào Nha bảo trợ, đặt trụ sở để phục vụ truyền giáo tới Nhật Bản) đến thẳng Nhật bị Nhật kiểm soát chặt chẽ.

Linh mục Francesco Buzomi, sinh năm 1576 ở Napoli, bị trục xuất khỏi Nhật, ông lui về Tỉnh dòng của Dòng Tên đặt ở Macao (Áo Môn) làm giáo sư thần học, rồi được cử đến Hội An năm 1615. Sứ vụ của ông ở vùng này (bao gồm Quảng Nam và Quy Nhơn) bất ngờ có những tiến triển tích cực, nên Tỉnh Dòng cử thêm linh mục Francisco de Pina sang trợ giúp.

Linh mục Pina là người đặt viên móng đầu tiên cho việc thiết kế và tạo tác chữ quốc ngữ, mà chúng ta đang dùng ngày nay: ông sử dụng các ký tự abc để ký âm tiếng Việt.

*

Francisco de Pina, sinh 1585 ở Bồ Đào Nha, tới Đàng Trong năm 1617, ở Hội An năm 1618. Ông sống ở cảng Nước Mặn hai hoặc ba năm (1618-1620), có lẽ để học tiếng “Đàng Trong” với linh mục Buzomi vốn đang sống ở đây từ trước.  Rời Nước Mặn, ông về Hội An và làm việc thêm ba năm, đến năm 1623 ông chuyển đến Kẻ Chàm (tức trấn Thanh Chiêm)  là thủ phủ của Quảng Nam. Ông chết đuối trên biển ở đây năm 1625. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đạo | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

Học thêm một ngôn ngữ!

Trong tiếng Anh, chữ scientist và chữ physicist nghe rất quen thuộc, tưởng như nó được hình thành một cách tự nhiên trong quá trình ngôn ngữ phát triển. Thực sự, hai từ này được một học giả người Anh tên là William Whewell chế ra năm 1836. Ông sử dụng gốc latin của chữ scientia và chế đuôi ist cho giống artist. Ông giải thích hai từ scientist và physicist ở trong đoạn văn dưới đây. William Whewell cũng là người đề xuất các thuật ngữ vật lý mới cho Michael Faraday: anode, cathode, electrode, ion, dielectric.

As we cannot use physician for a cultivator of physics, I have called him a physicist. We need very much a name to describe a cultivator of science in general. I should incline to call him a Scientist. Thus we might say, that as an Artist is a Musician, Painter, or Poet, a Scientist is a Mathematician, Physicist, or Naturalist. [William Whewell, “The Philosophy of the Inductive Sciences,” London, 1840]

 *

Ngày nay có lẽ ai cũng hiểu việc biết thêm một ngôn ngữ khác tiếng mẹ đẻ của mình sẽ có ích lợi thế nào trong cuộc sống.

Ngày xưa các cụ ai biết chữ Hán thì oai hơn những người xung quanh hẳn mấy bậc. Gần đây hơn là những trí thức biết tiếng Pháp, rồi tiếng Anh. Hiện nay, trong công việc và đời sống thường ngày, những ai biết các thứ tiếng, Trung, Nhật, Đức, … đều có chút lợi thế hơn những người không biết.

*

Trong thế giới số hiện nay, nơi mà xu hướng trí tuệ nhân tạo đang manh nha xuất hiện ở mọi nơi, còn nền kinh tế chuyển dần sang 4.0, rất có thể hai ngôn ngữ sau đây sẽ đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống thường ngày. Một là ngôn ngữ toán nói chung và ngôn ngữ đại số tuyến tính nói riêng. Hai là ngôn ngữ lập trình cho trí tuệ nhân tạo, ví dụ như ngôn ngữ Python.

Có nghĩa là nếu ai biết hai ngôn ngữ nói trên sẽ có thêm một chút lợi thế trong cuộc sống.

*

Biết hai ngôn ngữ nói trên, không có nghĩa là phải thông thạo chúng. Ta chỉ cần biết chúng ở mức đọc hiểu. Cũng giống như học ngoại ngữ, ví dụ tiếng Anh, nếu giỏi đến mức viết được tiểu luận hay hùng biện bằng tiếng Anh được thì tốt, còn không thì chỉ cần đọc hiểu là được: đọc được báo tiếng Anh, đọc phụ đề phim tiếng Anh, và cũng không nhất thiết phải hiểu 100% những gì họ viết.

*

Toán là một thứ ngôn ngữ. Chỉ có điều nó không phải là ngôn ngữ tự nhiên, nó là ngôn ngữ do con người chủ ý tạo ra và được hoàn thiện dần theo thời gian.

Quãng năm 1557, có một nhà toán học xứ Wales tên là Robert Recorde. Ông này phát chán với việc làm toán mà cứ phải viết cái này bằng với cái này, ông nghĩ ra cách thay cụm từ “bằng với” bằng dấu “=”. Từ đó dấu “=” xuất hiện trong các công thức toán.

Hoặc trước đó, vào năm 1525, nhà toán học người Đức Christoph Rudolff thấy cứ phải viết chữ căn (root) của số nào đó mãi cũng chán, ông ấy biến chữ r (ký tự đầu của chữ “root”) thành dấu căn “ √ ”, và từ đó chúng ta có dấu căn trong toán học. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Uncategorized | Thẻ , , , , , , , , , , , ,

Sound of Silence

la-pagode-saigon

Cái milk-bar mà Phượng của Fowler thường ngồi vào cuối sáng, tôi luôn nghĩ rằng nó phải nằm đâu đó quanh số nhà trên đường Catinat mà sau này thành nhà in sách nổi tiếng Albert Portail chuyển đến. Nhà sách của Portail, chuyển qua đến mấy đời chủ, gốc gác xưa cũ là của ông Claude từ năm 1905, nhà in sách Claude et Cie. Nhà sách Portail ấy sau này, cỡ năm 1955, đổi tên thành Xuân Thu mà bà chủ của nó, cũng như của cái rạp hát Eden, được cho là  đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân.

Graham Greene đến Sài Gòn, hay đúng hơn là Sài Gòn trong The Quiet American của ông, đã không có cái nhà sách ấy.

Cái Pavilion, chéo qua bên kia đường với cái milk-bar,  mà Fowler ghé qua uống bia lạnh và để tránh Phượng, được Greene mô tả là một “coffee centre” cho phụ nữ Châu Âu và Mỹ. Ở đó Fowler chứng kiến vụ đánh bom. Cái Pavilion này tôi tin chắc chính là quán cà phê Terrace dành cho người nước ngoài của khách sạn Continental. Đây là quán cà phê sang đầu tiên ở Catinat, sau là Tự Do, và ngày nay là Đồng Khởi.

Không thấy nhắc đến  Givral. Có lẽ vào cái thời mà Việt Minh chưa về Hà Nội và Sài Gòn vẫn là đô thị hải ngoại của nước Pháp, cái chỗ mà sau này mở Givral vẫn là tiệm thuốc tây Solirène. Givral là quán cà phê thứ hai ở Caninat, dành cho khách Việt thượng lưu, và có lẽ là quán đầu tiên sang trọng dành cho người Việt.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sống | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , | 4 phản hồi

Bình đẳng giới, Ô nhiễm nhựa, Beatles, Phim Love, Du hành thời gian, Bush Cha

Các mẩu ngắn ngắn dưới đây tôi post ở Instagram cho vui. Nay copy lại vài cái về đây, nhưng không có ảnh kèm theo, mọi người đọc giải trí mùa Giáng Sinh.

 

1.

Bình đẳng giới!

Trong ảnh là Tạp chí Pi, cover story là “100 năm định lý Emmy Noether”.

Noether là nhà toán học gốc Do Thái. Bà là …một phụ nữ.

Công trình toán học năm 1918 của bà đóng vai trò rất lớn trong vật lý hiện đại và được cả Hilbert và Einstein ca ngợi. Trước đó mấy năm, bất chấp việc được cả Hilbert và Klein, hai siêu tên tuổi toán học, tiến cử, Noether vẫn không được đại học Gottingen nhận làm giáo sư. Việc chống đối, ta có thể đoán được, đến từ các giáo sư bên các ngành xã hội. Lúc này Noether còn tương đối trẻ.

Việt Nam, xét về văn hóa dân gian, cho đến nay vẫn là dân tộc mẫu quyền. Tục thờ mẫu vẫn còn rất phổ biến ở miền bắc. Bất chấp 1000 năm Bắc thuộc, bị Hán hóa, văn hóa trọng nam khinh nữ của Tàu không xóa được ý thức hệ “mẫu hệ” ra khỏi văn hóa Việt. Hai Bà Trưng, biểu tượng của mẫu hệ, chỉ bị bóp méo đi một tí, bằng việc bổ sung yếu tố “trả thù chồng”.

Đến thế kỷ 15, thời Lê, luật Hồng Đức đề cao vai trò và quyền phụ nữ, tiến bộ hơn tất cả các nước trong khu vực, hơn luôn cả Nhật. Phụ nữ Việt được quyền sở hữu và thừa kế. Thời Lê còn tổ chức phong thần cho hai nữ tướng của Hai Bà Trưng. Đây là giai đoạn mẫu hệ Việt hấp thu thêm mẫu hệ Chăm, và hình thành văn hóa đồng bằng bắc bộ tồn tại (như dòng chảy ngầm) cho đến tận ngày nay. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm, Uncategorized | Thẻ , , , , ,

Pháp quyền, pháp trị, pháp gì?

Bản “Yêu sách của nhân dân Annam”, do Nguyễn Ai Quốc ký thay mặt dân thuộc địa, bản chính được viết bằng tiếng Pháp, xuất hiện khoảng giữa năm 1919. Bản tiếng Việt cũng của Nguyễn Ái Quốc, diễn nôm thành văn lục-bát. Trong đó, yêu sách thứ bảy được viết: “Bảy xin hiến pháp ban hành/Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Có người diễn giải chữ “thần linh” là “Bác” muốn nói “pháp quyền” là luật tự nhiên, của tạo hóa, là quyền con người, đứng cao hơn tất thảy. Thực ra “thần linh” chỉ là cách chuyển ngữ của Nguyễn Ái Quốc từ chữ “spirit” mà thôi. Nếu sinh ở thời này, hẳn Nguyễn Ái Quốc sẽ dịch là “tinh thần pháp quyền”.

Trên trang Luật Khoa tạp chí có một bài dài tìm hiểu về cách dịch khái nhiệm rule of lawrule by law sang tiếng Việt như thế nào mới là đúng. Tên bài là “Rule of Law, không phải ‘pháp quyền’ cũng chả phải ‘pháp trị’.”

Hóa ra vấn đề dịch thuật ngữ này rất lằng nhằng, nhiều học giả cãi nhau như mổ bò, và ngại nhất là các lý luận của họ đôi chỗ rối như canh hẹ. Chưa hết, bài viết này cho ta biết hóa ra bên Tàu họ cũng gặp các vấn đề tương tự.

Mọi người có thể đọc bài ấy ở đây.

*

Càng ngày tôi càng tin rằng tính cách dân tộc quyết định rất nhiều đến sự phát triển của một quốc gia dân tộc (nation). Tính cách ấy thể hiện trong từng cá nhân (như nghệ sĩ, nhà khoa học, hay lãnh đạo thì) bằng hình thức “cá tính”.

Với những người lãnh đạo, cái quan trọng không phải là trình độ học vấn (bởi nếu không có, lãnh đạo có thể dùng quân sư), không phải là đạo đức (morals), bởi giới hạn của đạo đức rất mập mờ, lãnh đạo đừng quá vô đạo là được, mà là cá tính. Cá tính không vay mượn hay thuê mướn được. Cứng cỏi, dám đối đầu khó khăn, dám quyết, dám làm, dám cải cách chống lại cả một đám đông u tối và bảo thủ, dám nhìn xa, dám làm cái lớn, dám dẫn dắt xã hội, quốc gia đến những bến đỗ mới: đó là cá tính, và phải có cá tính mới làm được.

Với xã hội, cái quan trọng nhất là kỷ cương. Một cá nhân cần có tự do để phát triển tối đa bản thân. Nhưng không phải là thứ tự do của thú hoang, của chim trời cá bể. Mà là một thứ tự do mà trong đó có không gian để các cá nhân thực hành tự do: tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do học thuật. Một tập thể, gồm nhiều cá nhân đơn lẻ muốn, cứng cỏi và mạnh mẽ, cần phải có kỷ luật. Giống như một đội bóng mạnh không phải vì các cá nhân tự do thể hiện tài năng riêng mình, mà là do một tập thể cầu thủ tài năng và tuân thủ chặt chẽ kỷ luật chiến thuật. Và quan trọng hơn, đó là họ đá với nhiều đội bóng khác, trong một giải đấu, mà tất cả cùng phải tuân thủ luật chơi chung.

Một xã hội muốn yên ổn, hài hòa, có hiệu suất sử dụng nguồn lực cao, ai cũng có vị trí của riêng mình và mọi người tôn trọng lẫn nhau, xã hội ấy cần kỷ cương. Kỷ cương triệt tiêu tính cách xấu của dân tộc, điều chính tính cách xấu của cá nhân, hạn chế phung phí nguồn lực xã hội vào các chuyện vụn vặt vô nghĩa (từ kẹt xe ngoài đường, ăn cắp giờ công sở đến cãi nhau liên tu bất tận trên facebook).

Một quốc gia phát triển không nhất thiết phải có một dân tộc ai cũng thông minh và giàu tri thức. Cái mà quốc gia ấy cần là một xã hội có kỷ cương. Kỷ cương ấy để bảo vệ các nguồn lực xã hội vốn rất giới hạn, để bảo vệ đa dạng sinh học, cạnh tranh lành mạnh, để bảo vệ tự do cá nhân và nuôi dưỡng tính cách tốt của cả dân tộc.

*

Hồi bé tôi có đọc một cuốn sách về các nhà sáng chế. Sách kể chuyện về các nhân vật lừng danh kiểu như Thomas Edison. Những sách kiểu này ngày xưa chủ yếu là dịch hoặc phóng tác từ các sách khoa học phổ thông, sách danh nhân của Pháp, rồi sau này là sách Nga.

Trong sách có nói đến ông Benjamin Franklin. Ông này nghiên cứu hiện tượng sét đánh bằng cách thả các con diều lên trời. Nhờ đó ông ấy sáng chế ra cái cột thu lôi. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ sách nói rằng cái sáng chế ấy thành công đến mức trở thành thời thượng, các quý ông đỏm dáng ở Paris tay cầm ô, đầu đội mũ chóp, đều gắn một cái que kim loại giống như cột thu lôi. Sách cũng nói ông Franklin còn làm đại sứ Mỹ ở Paris.

*

Trong Tuyên ngôn độc lập 1945, người sáng lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có trích dẫn một câu từ Tuyên ngôn độc lập của Mỹ. Tuyên ngôn nổi tiếng của Mỹ này do Thomas Jefferson viết. (Có thể đọc bài về việc ấy ở đây).

Một nhóm nhỏ vài người Mỹ lãnh đạo cuộc đấu tranh đưa nước Mỹ từ thuộc địa của Anh trở thành quốc gia độc lập, họ cùng nhau ký vào Tuyên ngôn độc lập, cùng nhau ký vào Hiến pháp Mỹ. Họ được dân Mỹ gọi là những người lập quốc (founder), rồi sau này nâng lên là các cha già lập quốc (founding fathers). Trong số đó có Thomas Jefferson, người thành tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ. Ông Benjamin Franklin, người nghĩ ra cột thu lôi, là cũng là nhân vật số hai sau Washington trong cuộc cách mạng Mỹ, và được bầu làm tổng thống thứ sáu của Pennsylvania (chức danh tổng thống/president này sau đổi thành thống đốc/governor, là người đứng đầu nhánh hành pháp kiêm tổng tư lệnh quân đội tiểu bang). Chân dung ông Franklin ở Việt Nam ta ai cũng biết, bởi được in trên tờ 100 dollar.

*

Tôi có xem giáo sư Leonard Susskind giảng về thuyết tương đối hẹpthuyết trường cổ điển. Phần thuyết trường điện từ Maxwell kết hợp với thuyết tương đối hẹp, ắt hẳn phải giảng về định lý Gauss (phương trình liên tục). Phương trình ngắn gọn này bao gồm hai đại lượng là mật độ điện tích và mật độ dòng điện. Ký hiệu là ρ (đọc là rho) và j. Susskind nói hai ký hiệu toán học này là do Benjamin Franklin đặt ra. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , ,

Bức xạ của Hawking

Bài này là một chương trong cuốn Bầu trời chiều ẩn giấu (bản 2018). Các bạn có thể download (miễn phí) cuốn sách này: bản để đọc trên thiết bị di động ở đây, và bản để in ra giấy ở đây, bản trên Google Play ở đây

*

Phát kiến “Lỗ đen không đen hoàn toàn” và nhiều hiểu biết vật lý sâu sắc khác của Stephen Hawking đã tạo ra các đột phá trong vật lý vũ trụ.

*

**

Stephen Hawking bắt đầu học vật lý ở đại học Oxford khi mới 17 tuổi, trẻ hơn hầu hết các sinh viên cùng khóa. Nhờ trí óc vượt trội, tính trung bình anh chỉ học khoảng một giờ một ngày trong suốt thời gian học đại học. Vào năm cuối cùng ở đại học, anh có triệu chứng của một người già vụng về, hay bị ngã khi đi cầu thang. Đi khám bệnh, bác sĩ chẩn đoán là do uống bia, yêu cầu anh phải ngừng nhậu nhẹt.

Năm 21 tuổi, sau khi tốt nghiệp hạng ưu và chuyển qua làm nghiên cứu sinh, các bác sĩ chẩn đoán Hawking mắc chứng bệnh nan y: xơ cứng teo cơ. Họ dự đoán anh chỉ còn hai năm để sống.

Người thanh niên trẻ trung, có khiếu hài hước và đặc biệt thông minh ấy bắt đầu sống từng ngày của hai năm cuối cùng của cuộc đời trong sự lạnh lẽo tối tăm không hạnh phúc, không niềm vui của chứng trầm cảm. Tình cờ anh gặp Jane Wilde trong một tiệc năm mới. Họ yêu nhau. Tình yêu của Jane kéo Stephen lên khỏi vực sâu trầm cảm và đặt anh trở lại công việc nghiên cứu khoa học.

Thế rồi họ lấy nhau, họ cần tiền để sống, và sự nghiệp khoa học của Stephen Hawking bắt đầu rẽ sang hướng khác.

*

**

Ngành vũ trụ học hiện đại ra đời sau khi Einstein công bố thuyết tương đối tổng quát năm 1915. Đến cuối những năm 1950, ngành này vẫn còn chập chững, và hiểu biết của các nhà vật lý, cả lý thuyết lẫn thực nghiệm vẫn còn khá giới hạn. Qua thập niên 1960, các nhà vật lý bắt đầu có những bước tiến mới nhưng họ chưa đạt được đồng thuận về nhiều vấn đề.

Mặc dù nghiệm Big Bang của phương trình thuyết tương đối Einstein đã được nhà vật lý xô viết Alexander Friedmann tìm ra trong quãng thời gian 1922-1924 nhưng nhiều nhà vật lý, nhất là các nhà vật lý xô viết, vẫn tìm cách từ chối hoặc né tránh thuyết Big Bang, tức là không công nhận vũ trụ và thời gian có điểm khởi đầu (quan niệm vật lý truyền thống cho rằng thời gian không có khởi đầu và không có kết thúc, vô thủy vô chung).

Tương tự như vậy, nghiệm lỗ đen được nhà thiên văn học người Đức Karl Schwarzschild tìm ra năm 1916 bằng cách giải hệ phương trình của Einstein, và cũng có khá nhiều nhà vật lý công bố các công trình nghiên cứu về lỗ đen từ trước khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, nhưng rất nhiều nhà vật lý châu Âu cho đến tận đầu những năm 1970 vẫn không tin vào sự tồn tại của lỗ đen. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đời | Thẻ , , , , , , , , , , , , , ,

Miếng ăn

Hôm nay trên mạng lan truyền một cái ảnh, không rõ thật hay fake, chụp các đồng chí anh nuôi bày bếp dầu nấu ăn trên boong chiến hạm, dưới đít tên lửa.

Miếng ăn, là miếng tồi tàn. Miếng ăn, là miếng nhục. Không phải tự nhiên các cụ nói vậy.

Dân mình, thấy miếng ăn ở khắp mọi nơi.

Các sự kiện quan trọng nhất trong đời một con người, vui hay buồn, đều phải có ăn: ăn hỏi, ăn cưới, ăn sinh nhật, ăn đám ma, ăn giỗ.

Các lễ lạt trong năm, có tính chu kỳ, năm nào cũng có và cũng ăn: ăn rằm, ăn Tết.

Ngày xưa ra đường làng gặp nhau, thay câu chào, là câu hỏi: ăn chưa, cơm nước gì chưa?

Nói chuyện liên quan đến mồm, có chữ “ăn” đã đành: ăn nói. Mặc quần áo cũng phải dính đến ăn: ăn mặc. Học hành cũng phải ăn: ăn học. Thậm chí chuyện chịch nhau cũng phải có ăn: ăn nằm.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm, phát triển | Thẻ , , , , , , , ,

Chuyện phải lòng

Chữ “trái tim” dịch ra tiếng Anh là “heart”. Chữ “heart” dịch ngược ra tiếng Việt lại thành chữ “lòng”. Thế mới tài.

Ví dụ “golden heart” dịch ra tiếng ta là “tấm lòng vàng”, “learn by heart” dịch thành “học thuộc lòng”, “from bottom of my heart” thì dịch là “từ tận đáy lòng”, “win someone’s heart” có nghĩa là “được lòng ai đó”. Có rất nhiều ví dụ như vậy, từ trái tim đến cỗ lòng, là một con đường rất vãi.

Nghĩa của chữ “lòng” rất uyển chuyển, có thể diễn đạt mọi sắc thái tâm lý tình cảm, từ ruột non đến ruột già, ra cả đến hậu môn.

Ai đó dễ bị người khác thuyết phục, gọi là “dễ mềm lòng”. Những người lý trí mạnh, khó thuyết phục, gọi là “cứng lòng”. Ủy mị một chút là “dễ động lòng”. Không chân thành với tình cảm của chính mình là “dối lòng”. Tình cảm đổi thay đích thị “thay lòng”.

Cởi mở tâm sự của mình với ai đó gọi là “mở lòng”. Đồng ý với ai đó gọi là “bằng lòng”. Rủ nhau cùng làm gì đó thì phải “đồng lòng” mới xong.

Gặp ai đó mà thích ngay, gọi là “phải lòng”. Chưa ngỏ được lời thì cứ thấy “rối ở trong lòng”. Thế rồi “xao xuyến mãi ở trong lòng” đến lúc cũng phải “tỏ lòng” mình ra. Đến khi yêu rồi, yêu thì ở trong tim, mà diễn đạt thành lời, gọi là “đem lòng yêu nhau”. Xa nhau thì nhớ “nao lòng”. Lúc nào cũng thấy “nóng lòng” gặp nhau. Để lâu thì nhớ “cháy lòng”. Gặp nhau một phát áp lòng vào nhau, xong xuôi nằm thở, “dốc lòng” với nhau. Rồi mới mặc quần áo chia tay, bịn rịn như “nát cả cõi lòng” đến nơi.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm | Thẻ ,

Kể những chuyện tình

Cả bốn chuyện tình (ba tình yêu, một tình bạn) dưới đây đều được dịch bằng google translate từ Anh sang Việt (và edit qua loa bằng tay).

*

Chuyện thứ nhất

b8651dd7041641520cabe3b9f10dd1bf

Họ gặp nhau trên phố Paris. Anh lẽo đẽo theo nàng tới chỗ làm.

Sau này anh kể, đó là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên.

Bấy giờ là năm 1893 và anh chỉ là một họa sĩ hậu ấn tượng non nớt mới được biết đến với những khung hình âu yếm và riêng tư.

Tên nàng là Marthe. Lúc đầu nàng nói dối anh cả tên lẫn tuổi. Nàng yếm thế, ưa lánh đời, và bị một căn bệnh buộc nàng phải tắm suốt ngày.

Vẻ lặng lẽ né tránh cuộc đời của nàng trở thành chủ đề trong tranh của anh suốt nửa thế kỷ, kể từ lúc họ quen nhau.

Anh là họa sĩ Pháp Pierre Bonnard.

Anh vẽ nàng, chủ yếu bằng ký ức, và bằng những bức ảnh chụp nàng lúc riêng tư. Trong tranh anh, nàng không bao giờ già đi. Anh vẽ nàng trong buồng tắm, trong buồng ngủ, và trong vườn. Anh vẽ nàng ngập tràn trong ánh sáng vàng son êm ả và màu sắc rực rỡ của cầu vồng.

Anh tan nát cõi lòng khi nàng chết, năm 1942. Trong thư gửi bạn mình là Henri Matisse, anh viết : “Anh có thể tưởng tượng được nỗi tiếc thương và sự cô đơn của tôi, chất chồng vị đắng và nỗi đau của cuộc đời mà tôi từ nay phải sống.” Tiếp tục đọc

Đăng tải tại gái | Thẻ , , , , , , ,