Mở ra biển

“Thủy chiến là sở trường của ta” – Nguyễn Ánh

Lần đầu tiên quân Tây Sơn xuất quân ra khỏi thủ phủ Quy Nhơn của mình là lần họ đánh ra Quảng Nam vào tháng Mười năm 1773. Đến tháng Mười hai cùng năm, thủy quân của chúa Nguyễn do Nguyễn Cửu Dật chỉ huy đi từ Hội An ra, hai bên gặp nhau ở Bến Ván. Quân Nguyễn có đại bác để trên tàu, di chuyển liên tục để bắn vào quân Tây Sơn trên bờ. Quân Tây Sơn thua trận phải rút về Quy Nhơn.

Tây Sơn lập tức chiêu mộ Lý Tài và Tập Đình hai viên tướng hải quân (đánh biển) đang hành nghề cướp biển về dựng thủy quân (đánh sông và đánh ven biển) cho Tây Sơn.

Trong lúc Tây Sơn đánh Nguyễn, quân chúa Trịnh kéo vào Phú Xuân rồi tiến đến tận Quảng Nam. Các chúa Nguyễn, tướng lĩnh và quân đội của họ chạy về Quảng Nam.

Đầu năm 1774 quân Nguyễn đánh vào thủ phủ Quy Nhơn của Tây Sơn. Lý Tài và Tập Đình chỉ huy quân đánh bật quân Nguyễn, nhân đà chiến thắng truy đuổi ra tận Quảng Nam. Nguyễn Ánh lúc này 14 tuổi dùng thuyền chạy thoát vào Gia Định. Rồi Nguyễn Cửu Dật lại đánh Tây Sơn bật ngược lại… Bến Ván. Ở đó, nhờ tiếp sức của tàu Hà Lan, quân Nguyễn lại đánh quân Tây Sơn lùi hẳn về Quy Nhơn. Quân Tây Sơn thua nhưng thu rất nhiều chiến lợi phẩm trong đó có đại bác và voi chiến. Lúc rút quân họ tàn phá luôn Hội An, khiến thương cảng sầm uất nhất của Đàng Trong không bao giờ gượng dậy nổi.

Trong lúc va chạm với thủy quân của Hoàng Ngũ Phúc, lão tướng hoạn quan nắm quân đội Nam chinh của Trịnh Sâm, Tập Đình thua và phải chạy về Quảng Đông rồi bị bắt và xử tử vì tội cướp biển. Lý Tài theo Nguyễn Nhạc về Quy Nhơn nhưng bất mãn và quay xe sang phe chúa Nguyễn. Thủy quân non trẻ của Tây Sơn được giao cho Nguyễn Lữ.

Năm 1776, lúc này Nguyễn Huệ đã hơn hai mươi tuổi nhưng chưa được cầm quân. Nguyễn Lữ lớn hơn chút, được Nguyễn Nhạc trao cho quyền chỉ huy một hạm đội, đi từ Quy Nhơn đánh xuống Gia Định. Nguyễn Lữ chiếm Gia Định, tổ chức tuyến hậu cần và vận tải đường thủy để chuyển của cải, lương thực, vũ khí cướp được ở Gia Định về Quy Nhơn. Nhân lúc Nguyễn Lữ bận rộn với công việc hậu cần, Đỗ Thanh Nhân từ Ba Giồng (Định Tường) đem thủy quân ra đánh Nguyễn Lữ chạy về Quy Nhơn.

Nhưng qua tháng Ba năm sau, 1777, Nguyễn Huệ bỗng nhiên xuất hiện với vai trò một viên tướng Tây Sơn trẻ trung thống lĩnh quân đội còn ông anh trai kế mình là Nguyễn Lữ nắm thủy quân. Tây Sơn kéo hạm đội của mình vào Gia Định lần thứ hai, đánh cho quân Nguyễn chạy tung tóe khắp nơi nhưng bỏ sót không giết Nguyễn Ánh. Trong vòng vài tháng, quân bộ của Nguyễn Huệ và quân thủy của Nguyễn Lữ phối hợp với nhau đánh tan quân Nguyễn từ cảng Bến Nghé đến các cửa sông nay thuộc miền tây Nam Bộ (cửa Ba Vác).

Đánh Gia Định xong Nguyễn Huệ quay về Quy Nhơn, mang theo người anh Nguyễn Lữ lúc này là phó tướng chỉ huy hải quân, huấn luyện thân binh và lo hậu cần, toàn những việc tỉ mỉ mà thiên tài Nguyễn Huệ chưa có mấy kinh nghiệm thực tế.

Vài tháng sau, tháng Mười 1777 Nguyễn Ánh đã xuất hiện trở lại, khởi binh ở Long Xuyên, kết hợp với quân đội của Đỗ Thanh Nhân, kéo quân về chiếm lại Gia Định. Nguyễn Ánh một mặt xây dựng vùng đất giàu có này thành kinh đô mới, một mặt cho Đỗ Thanh Nhân đi đánh dẹp Chân Lạp (nay là Trà Vinh), một mặt chống quân Tây Sơn đánh từ Quy Nhơn ra (theo đường bộ đi qua Bình Thuận, Đồng Nai) và đường thủy đi vào Soài Rạp. Đỗ Than Nhân chỉ huy thủy quân đánh bật quân Tây Sơn ra khỏi Bến Nghé. Lúc này cũng đã xuất hiện Lê Văn Duyệt chỉ huy thủy quân, đánh chặn các đường chuyển binh và tiếp vận của quân Tây Sơn từ Bến Nghé về Đồng Nai.

Mở ngoặc: khi Tây Sơn nổi lên là lúc chính trị của chúa Nguyễn ở Đàng Trong suy thoái. Khi Tây Sơn đánh vào đến Gia Định là lúc nhà Nguyễn bị tàn sát, quân đội và kinh tế tan hoang, các sứ quân nổi lên trong đó có Đỗ Thanh Nhân (thành lập quân đội Đông Sơn với hàm ý đối đầu Tây Sơn) và Lý Tài (bỏ Tây Sơn, theo chúa Nguyễn nhưng có quân đội riêng là Hòa nghĩa quân). Sau khi Đỗ Thanh Nhân chống Tây Sơn thành công, xây dựng thủy quân cho chúa Nguyễn thành công, thì chúa Nguyễn Ánh cũng giết luôn ông Nhân này. Trước đó thì Đỗ Thanh Nhân cũng phục kích và giết Lý Tài.

Vị tướng trẻ Nguyễn Ánh bắt tay xây dựng hạm đội của mình bằng kỹ thuật của phương Tây, ông tự tin đến mức tháng Tư năm 1782 khi quân Tây Sơn kéo vào cửa Cần Giờ, đích thân Nguyễn Ánh đứng ở đầu hạm đội của mình (theo nghĩa đen) ra nghênh chiến. Quân Tây Sơn đánh Gia Định lần này không có Nguyễn Lữ, mà do Nguyễn Nhạc chỉ huy, nhưng đứng đầu thủy quân là Nguyễn Huệ. Bên Tây Sơn công nghệ kém hơn, không có súng điểu thương và thủ pháo, nhưng vẫn chiến thắng do tài năng của Nguyễn Huệ và sự dũng cảm đến liều mạng của binh lính. Đặc biệt lần đánh này, Nguyễn Lữ dùng thuyền chở cả voi chiến vào Gia Định cho Nguyễn Huệ sử dụng. Gia Định lần nữa thất thủ. Nguyễn Ánh chạy về tận Ba Giồng, quân Tây Sơn đuổi theo sát nút, tiến cả vào đất Chân Lạp, tiện tay bắt luôn các quan Chân Lạp ở Tuy Lạp (nay là tỉnh Svay Rieng), qua đó mở mang bờ cõi nước ta (nay là một phần Long An và Tây Ninh). Tàn phá xong Gia Định, quân Tây Sơn lại rút về Quy Nhơn.

Lúc này lại xuất hiện Châu Văn Tiếp dựng cờ theo Nguyễn Ánh, đem quân chiếm lại Gia Định, đưa Nguyễn Ánh trở về. Lần này Nguyễn Ánh xây dựng các tuyến phòng thủ các sông lớn. Tháng Ba năm 1783, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cùng một hạm đội rất lớn quay lại Gia Định, cũng đi vào bằng cửa Cần Giờ. Hai anh em Tây Sơn đều thạo thủy chiến lần này đánh cho quân Nguyễn Ánh tan tác thật sự. Châu Văn Tiếp may mắn chạy thoát, Nguyễn Ánh lưu vong ở Xiêm.

Năm 1785, Nguyễn Ánh quay về cùng bộ binh và thủy binh của Xiêm. Tây Sơn lúc này đã kiểm soát hầu hết Gia Định (từ Đồng Nai đến Mỹ Tho-Long Hồ/Vĩnh Long). Nguyễn Huệ mang quân thủy từ Quy Nhơn ra đóng ở Mỹ Tho rồi tổ chức đánh trận Rạch Gầm-Xoài Mút trên sông Mỹ Tho. Quân Xiêm thua trận, nhiều năm sau nghe đến tên Tây Sơn còn sợ.

Rảnh tay phía Nam, quân Tây Sơn bắt đầu Bắc tiến. Họ đánh ra Phú Xuân. Tháng Tư năm 1786 Nguyễn Huệ đứng đầu quân đội, Nguyễn Lữ chỉ thủy binh, hai anh em Lữ Huệ với hai hổ tướng là Chỉnh và Nhậm đánh ra Thuận Hóa. Đến giữa tháng Sáu thì chiếm được Phú Xuân.

Chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Huệ để Nguyễn Lữ ở lại, lấy hạm đội của Lữ giao cho Nguyễn Hữu Chỉnh, dựng cờ Phù Lê Diệt Trịnh tiến ra Bắc. Hạm đội của Nguyễn Hữu Chỉnh đi vào cửa Đại An, chiếm kho lương khổng lồ ở Vị Hoàng (Nam Định), đốt lửa hiệu báo chiến thắng để đại quân của Nguyễn Huệ theo đường thủy biết mà căng buồm ra đánh Thăng Long. Quân Trịnh cũng dùng thủy binh ra đánh chặn ở hồ Vạn Xuân và bến Thúy Ái (nay là Thanh Trì Hà Nội). Cuối tháng Bảy 1786 quân Tây Sơn (người Thăng Long gọi là giặc Quảng) đã chiếm Thăng Long và cướp bóc xong vàng bạc châu báu súng đạn voi chiến của nhà Trịnh. Đến cuối tháng Tám họ đột ngột rút quân về Quy Nhơn. Trên đường rút còn qua phủ Yên Trường, qua Thanh Hóa cướp bóc của nả nhà Trịnh thêm lần nữa.

Nguyễn Nhạc ra Bắc gọi Nguyễn Huệ về, bắt Nguyễn Lữ quay lại Gia Định, phong làm Đông Định Vương. Nước ta lần đầu tiên bị chia làm ba vương quốc: Thuận Hóa của Bắc bình vương Nguyễn Huệ, Phú Yên – Quảng Nam của Thái Đức Đế Nguyễn Nhạc, Gia Định của Đông Định Vương Nguyễn Lữ. (Nguyễn Nhạc là anh cả, Nguyễn Lữ thứ bảy, Nguyễn Huệ thứ tám và là con út.)

Đến Mậu Thân 1789, Nguyễn Huệ xưng hoàng đế, thành Quang Trung, đem quân thần tốc ra đánh Tôn Sĩ Nghị. Thủy quân có hai nhánh đi trước, một vào cửa Lục Đầu chuyển quân lên nắm Lạng Sơn, giữ Hải Dương, chặn đường tháo chạy của quân Thanh, cũng là ngăn tiếp viện cho Tôn Sỹ Nghị ở Thăng Long. Một nhánh đi vào Thanh Trì, chuyển sẵn voi chiến lên bờ đợi kỵ binh và bộ binh của Quang Trung đi đường bộ tới sau. Chiến thuyền lớn của Tây Sơn, loại có thể chở được voi chiến, được gọi là Đại-Hiệu thuyền do quân Tây Sơn tự đóng nhờ công nghệ mua của hải khấu Trung Hoa (Tề Ngôi hải phỉ) và phát triển thêm (các tàu nhỏ hơn của Tây sơn vẫn được gọi là tàu Tề Ngôi).

Nguyễn Lữ từ khi bị tước hạm đội khỏi tay, lại bị Nguyễn Nhạc cắt đứt khỏi cặp bài trùng và là em trai của mình là Nguyễn Huệ, rồi lại bị đưa về Gia Định xa xôi, nên dần bạc nhược. Tháng Chín năm 1787 Nguyễn Ánh dùng thủy quân đi qua cửa Cần Giờ đánh vào Gia Định (Sài Gòn), Nguyễn Lữ chạy về đồn Mụ Lượng, rồi sau đó chạy về Quy Nhơn, đảm nhận vai trò thượng sư (tổng tư tế cho quân đội Tây Sơn, lo việc thờ cúng) và rồi biệt tích ở đó. Nguyễn Lữ để lại phía sau Sài Gòn lúc này do tướng Phạm Văn Sâm giữ.

Nguyễn Nhạc già và sợ Nguyễn Huệ kéo quân từ Phú Xuân về chiếm Quy Nhơn, nên không dám vào Gia Định đánh Nguyễn Ánh. Nguyễn Huệ ở Phú Xuân vừa phải canh chừng Thăng Long vừa phải đề phòng anh ruột Nguyễn Nhạc ở , đành cử Phạm Văn Hưng mang hạm đội vào đánh nhau với Nguyễn Ánh ở Gia Định. Quân của Phạm Văn Hưng và Phạm Văn Sâm phối hợp với nhau bảo vệ Sài Gòn. Nguyễn Ánh lúc này có thêm danh tướng Võ Tánh gia nhập, thủy quân Nguyễn Ánh đóng ở Thị Nghè, bộ binh của Võ Tánh đóng ở Bến Nghé (ở giữa là khúc sông Sài Gòn nay là đường đi bộ ven sông và chung cư cao cấp Ba Son), hai cánh phối hợp đánh quân của tướng Sâm vỡ trận phải chạy ra Cần Giờ rồi xuôi về Hậu Giang. Nguyễn Ánh vào Sài Gòn tháng Tám 1788, hoàn toàn làm chủ Gia Định. Ở đây, năm 1791, ông bắt đầu xây dựng thủy binh xưởng (Chu sư xưởng) mà Ba Son về sau chỉ là một phần phía đông của xưởng này. Chu sư xưởng dài tới ba dặm, và người châu Âu mô tả là chu sư xưởng và quân cảng của Gia Long ngay cả người Âu nhìn thấy cũng phải thán phục. Còn hạm đội của Gia Long được coi là mạnh nhất khu vực, chỉ thua hạm đội của châu Âu đóng quân ở Ấn Độ.

Gia Định lớn mạnh thì cũng là lúc Nguyễn Ánh mang tham vọng Bắc tiến, bắt đầu là đánh vào đất của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn. Ông đánh đường bộ nhưng không ăn thua, vì quân Tây Sơn quá thiện chiến trên đất liền nên quân đội Gia Định chỉ chiếm được Bình Thuận rồi dừng lại.

Năm 1792, Quang Trung phao tin đem thủy quân vào đánh Gia Định, rồi cho một hạm đội nhỏ đánh vào Bình Thuận. Nhưng do phải đi vòng để tránh vương quốc của ông anh cả, nên kế hoạch này thất bại ngay ở Bình Thuận. Sau đó Nguyễn Ánh tổ chức một hạm đội rất lớn, nhân gió Nam, kéo quân thẳng ra Quy Nhơn đánh vào cảng Thị Nại. Quân Tây Sơn thua tan tác, quân Gia Định thu được cả đại hiệu thuyền lẫn tề ngôi thuyền. Đánh xong Nguyễn Ánh rút ngay về Gia Định.

Thua trận Thị Nại, Nguyễn Huệ lập tức dàn hòa với anh cả Nguyễn Nhạc, ra hịch kêu gọi toàn quân chiến đấu chống Gia Định. Kế hoạch của Nguyễn Huệ là đem cả bộ binh lẫn thủy binh từ Phú Xuân vào chiếm lại từ Gia Định đến Cao Miên, làm chủ hẳn một cõi phía Nam. Việc chưa đi đến đâu, vài tuần sau Quang Trung đột ngột qua đời.

Kể từ đây Nguyễn Ánh bắt đầu chinh phục một dải đất nhỏ từ Bình Thuận ra Phú Yên, rồi dẫn đầu thủy quân đánh vào trung ương của Tây Sơn ở Quy Nhơn. Chiếm được Quy Nhơn, đổi tên thành Bình Định, Nguyễn Ánh để Võ Tánh lại giữ thành rồi về Gia Định.

Quân Tây Sơn, bộ binh do Trần Quang Diệu chỉ huy vây thành Bình Định, thủy quân do Vũ Văn Dũng chỉ huy phong tỏa cảng Thị Nại. Để hoàng tử Cảnh ở lại canh Gia Định, Nguyễn Ánh đem thủy quân ra đánh Thị Nại năm 1801. Thủy chiến cảng Thị Nại được coi là trận thủy chiến dữ dội nhất lịch sử VN. Vũ Văn Dũng chỉ huy quân Tây Sơn, bố trí pháo trên các đại hiệu thuyền (mỗi thuyền có tới 40-50 khẩu pháo) và rất nhiều pháo trên núi để bắn xuống biển. Bên Gia Định tấn công bằng thủy binh rất dũng cảm. Bên Tây Sơn chiến đấu quật cường. Suốt từ 10pm đến 4am. Bên Gia Định chết mất Võ Di Nguy, nhưng nổi lên võ tướng Lê Văn Duyệt. Quân Tây Sơn đánh đến người cuối cùng. Gia Định chết 2-4000 người, Tây Sơn chết 20-50 ngàn. Tây Sơn mất 1800 thuyền lớn nhỏ và 600 khẩu đại bác. Sau trận này thủy quân Tây Sơn coi như bị tiêu diệt hoàn toàn. Mặt biển từ lúc này do Gia Định kiểm soát. Quân bộ của Trần Quang Diệu vẫn vây thành, từ trong thành Võ Tánh tìm cách gửi thư ra cho Nguyễn Ánh, khuyên Nguyễn Ánh bỏ Bình Định mà đánh ra Phú Xuân. Nguyễn Ánh nghe theo. Võ Tánh cũng viết thư cho Trần Quang Diệu xin tha cho binh lính, còn mình thì tự sát. Trần Quang Diệu nghe theo, tha cho lính và chôn cất Võ Tánh tử tế. Võ Tánh sau này là thần tượng của người dân Sài Gòn Gia Định, cho đến 1975.

*

**

Trước khi Tây Sơn làm loạn thì Chúa Nguyễn cai quản Đàng Trong ở bề mặt thì theo thể chế nhà Lê – từ Nam Trung Bộ (Phú Yên) đến hết đất Đàng Trong (Vĩnh Long) chia làm bốn xứ (đạo thừa tuyên), dưới xứ là các phủ, còn thực tế thì nhà Nguyễn quản lý bằng chính quyền quân sự (quân chính) chia thành trấn, dưới trấn là dinh. Dinh và trấn là các quân khu do võ quan đứng đầu.

Năm 1778 khi Nguyễn Ánh quay lại chiếm Gia Định, phủ Gia Định đổi hẳn thành trấn. Đến năm 1808, tức là 6 năm sau khi Nguyễn Ánh – Gia Long thống nhất đất nước và đặt quốc hiệu Việt Nam thì Gia Định được nâng cấp thành Gia Định Thành Tổng Trấn bao phủ các tỉnh Nam Bộ bao gồm cả trấn Hà Tiên trước đây chúa Nguyễn cho Mạc Thiên Tứ tự trị. Cuốn sách của Trịnh Hoài Đức “Gia định thành thông chí” là Gia Định rộng lớn này chứ không phải là Tỉnh Gia Định nho nhỏ nằm giữa Đồng Nai và Sài Gòn.

Ngày nay (tỉnh) Gia Định – Sài Gòn – Chợ Lớn là vùng lõi của thành phố Hồ Chí Minh.

*

**

Cuộc chiến tranh (du kích) với Pháp và với Mỹ, rồi với Polpot và Tàu Đặng chủ yếu dùng bộ binh với hỏa lực mạnh là xe tăng và pháo kéo dài nhiều năm cả trên thực địa và tuyên truyền và ca ngợi truyền thông vô tình làm mai một đi việc người Việt đã từng đánh nhau trên sông và trên biển rất giỏi. Thời hậu chiến, việc đóng cửa đất nước, truy bắt vượt biên,… lại làm cho ngành đi biển mai một dần nghề đi biển vốn là nghề mà cả người Việt lẫn người Chàm đều rất giỏi.

Gia Định – Sài Gòn – Chợ Lớn tự nhiên trở thành một đô thị nằm sâu trong lục địa, trong khi nhiều trăm năm trước đó nó là đô thị có mặt tiền là biển, nó là đô thị hướng biển.

Khi Nguyễn Hữu Cảnh thành lập đơn vị hành chính Gia Định năm 1698 thì Gia Định có hai dinh là Trấn Biên (nay thuộc Biên Hòa) và Phiên Trấn (nằm trên vùng tp Hồ Chí Minh và Long An hiện nay). Người đầu tiên nắm quyền cai quản dinh Phiên Trấn là Đô Đốc Trần Thượng Xuyên.

Khi Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch chạy quân Thanh qua Đà Nẵng năm 1679 xin làm bầy tôi nhà Nguyễn, chúa Nguyễn cho vào Đông Phố (Đồng Nai). Trần Thượng Xuyên đi qua cửa Cần Giờ vào Đồng Nai. Dương Ngạn Địch đi cửa Soài Rạp vào Mỹ Tho. Các lực lượng người Hoa không chỉ gây dựng vùng đất mới phồn thịnh mà còn là chiến binh, họ đánh lẫn nhau và đánh quân Chân Lạp lúc này vẫn còn ở Sài Gòn, cho đến khi Trần Thượng Xuyên nổi lên cùng Nguyễn Hữu Cảnh đánh dẹp tất cả bao gồm cả quân Chân Lạp, đánh sang tận PhnomPenh. Hai cha con Trần Thượng Xuyên liên tiếp là võ tướng đứng đầu Gia Định.

Từ thời Trần Thượng Xuyên, đến thời Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, đến thời liên quân Pháp Tây Ban Nha đánh chiếm Sài Gòn (1859), rồi đến thời Pháp thuộc tàu bè còn chở được cả người đi tìm hình của nước, thời di cư 1954, rồi đến thời của quân đội Mỹ… con đường vận tải quan trọng nhất để tiếp cận đất Gia Định nói chung và Sài Gòn nói riêng là đi qua cửa biển Cần Giờ.

Nhìn bản đồ thành phố Hồ Chí Minh hiện nay từ phía biển, rõ ràng Cần Giờ là mặt tiền biển với cửa sông lớn như Soài Rạp, Đồng Tranh, Ngã Bảy, Tachen đi vào các con sông lớn Thị Vải, Lòng Tàu, Soài Rạp, Nhà Bè, Sài Gòn và vô vàn con rạch chạy vào Đồng Nai – Gia Định – Sài Gòn – Chợ Lớn – Mỹ Tho. Nằm cùng mặt tiền biển ấy một bên là Mỹ Tho và bên kia là Vũng Tàu (đứng ở bờ biển Cần Giờ có thể nhìn thấy Vũng Tàu bằng mắt thường). Đây là lý do mà hành chính thời Pháp thì Cần Giờ nằm chung đơn vị với thị xã Ô Cấp (Vũng Tàu) để tạo thành thành phố tự trị (commune autonome) Cap Saint Jacques, còn Mỹ Tho là thành phố mà Pháp xây còn trước cả Sài Gòn. Đây có lẽ cũng là một gợi ý để mở rộng tp Hồ Chí Minh thành đại đô thị kiểu Seoul với một thành phố lõi và các thành phố vệ tinh (Vũng Tàu, Mỹ Tho, Củ Chi, Thủ Đức, Long Thành và Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn).

About Blog của 5xu

Ti hí nhìn đời
Bài này đã được đăng trong Uncategorized và được gắn thẻ , , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.