Chống cát cứ

Bản chất của bất cứ nhà nước chuyên chế nào cũng là tập quyền. Tức là tập trung toàn bộ quyền lực vào người đứng đầu nhà nước ấy, xưa là hoàng đế, sau này là đảng trưởng, quốc trưởng. Đồng thời quyền lực nhà nước chỉ chuyển giao và kế thừa trong giới “tinh hoa chính trị”, ngày xưa là “hoàng gia”, nay là nhóm nhỏ các đảng viên chóp bu của đảng cầm quyền.

Ở mức độ nào đó, chế độ tập quyền chấp nhận tản quyền. Tức là một phần nhỏ quyền lực được phân bổ xuống triều đình (nay là chính phủ) và các địa phương.

Nhưng khi quyền lực ở các bộ ban ngành, quân đội, công an hoặc các địa phương trở nên quá mạnh, hình thành “cát cứ”, thì bản năng sinh tồn của chế độ sẽ trỗi dậy và “ông vua” sẽ tuyên bố quyền lãnh đạo “trực tiếp và toàn diện” của mình trước khi mở chiến dịch “chống cát cứ” từ địa phương tới trung ương. Chiến dịch chống cát cứ xưa nay chỉ có một cách: làm nhục các viên quan dám lấn át “hoàng gia”, bắt các quan đại thần về “xưởng vệ”, tịch thu tài sản.

*

Chu Nguyên Chương xuất thân nghèo khó, trưởng thành từ khố rách áo ôm, vào chùa đi khất thực, rồi theo quân khởi nghĩa, cuối cùng lật đổ nhà Nguyên mà làm vua, sáng lập ra nhà Minh ở bên Trung Quốc.

Để xây dựng nền chính trị chuyên chế nhà Minh, Chu Nguyên Chương phát minh ra “Đình Trượng” và “Cẩm Y Vệ”.

“Đình trượng” là hình phạt: lột trần và đánh ngay trước triều đình các quan đại thần, thường có xuất thân quý tộc hoặc trí thức. Kiểu: thế có đau không, nhục không.

“Cẩm y vệ”, nghĩa đen là đội quân cận vệ mặc áo gấm, là thân binh, tức là trực thuộc quyền điều khiển của nhà vua. Nhưng dù có chữ “vệ”, cơ quan này không bảo vệ mà là mật vụ đi dò la tin tức các quan đại thần và nghe ngóng dư luận thủ đô. Các viên mật vụ này được gọi là “kiểm hiệu”. Đứng đầu được gọi là “chỉ huy sứ”. Cơ quan Cẩm y vệ ngoài bộ phận hành chính, còn có bộ phận đặc biệt gọi là Trấn Phủ Ty, bộ phận này làm nhiệm vụ giam giữ, tra tấn, xét hỏi.

Cẩm y vệ được quyền report thẳng cho hoàng đế và nhận lệnh trực tiếp từ nhà độc tài này. Nó cũng có công đường (đơn vị xét xử) riêng nằm ngay trong nhà tù, gọi là “Chiếu Ngục”.  Như vậy Cẩm y vệ xét xử mà không cần đến Bộ Hình bên triều đình. Và do Chu Nguyên Chương có xu hướng xét xử vượt ra ngoài luật nên Cẩm y vệ về cơ bản là nằm ngoài tư pháp.

Trước nhà Minh, Trung Hoa có ba cơ quan (ty) phụ trách tư pháp, gọi là “tam pháp ty”, bao gồm: Hình Bộ, Đô Sát Viện, Đại Lý Tư. Hình bộ thì lo việc bắt bớ xử án hình sự. Đô sát viện làm công tác thanh tra chính phủ, giám sát kỷ luật quan chức. Đại lý tư là cơ quan xét xử các án oan, ai kêu oan thì đến đây.

Việc lập Cẩm y vệ về thực chất là xóa bỏ tư pháp, tư pháp tồn tại chỉ để làm vì. Vua bận nhiều việc, Cẩm y vệ tự mình làm hết. Oan sai rất nhiều, vì bọn này toàn bắt bớ theo ác ý của mình rồi dùng nhục hình để ép cung. Đưa người ta vào chỗ tan tành, sau mới đưa qua Tam pháp ty để kết án cho hợp thức hóa. Gần đây chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của Tập cũng dùng cẩm y vệ của đảng là ủy ban kiểm tra để bắt bớ (song quy) quan chức, hãm vào chỗ chết rồi mới đưa qua công an và tòa xét xử (xem thêm ở đây).

Đến thời của Chu Đệ (hoàng đế Vĩnh Lạc), ông này lại cải tiến Cẩm y vệ lên một tầm mới. Ông vua này đặc biệt tin cậy các quan thái giám (Trịnh Hòa là một ví dụ) nên cử thái giám đi nắm các vị trí quan trọng. Một mặt ông ta củng cố chế độ tra tấn và giam giữ ở Trấn phủ ty; mặt khác rút các cán bộ giỏi nhất (và cũng nhẫn tâm nhất, hắc ám nhất) của Cẩm y vệ ra để thành lập một cơ quan mới nằm trong Cẩm y vệ: gọi là “Xưởng vệ”. Cơ quan này do một thái giám đứng đầu, chức thấp hơn chỉ huy sứ của Cẩm y vệ, nhưng quyền lực lại lớn hơn nhiều. Xưởng vệ có chức năng dò la tin tức và bắt bớ. Họ dò la và bắt giam cả quan chức trong triều lẫn dân thường. Dần dà họ mở rộng xuống quan chức địa phương cũng như thăm dò dư luận xã hội, kể cả ghi chép báo cáo giá cả các mặt hàng thiết yếu của thị trường. Sớ của Xưởng vệ truyền về, kể cả nửa đêm mới tới cung cấm, cũng được đưa tới ngay tay nhà vua. Vua ở cung cấm mà biết hết tình hình thiên hạ là nhờ bộ máy tỏa khắp nơi của Xưởng vệ. Chu Đệ, tức Minh Thành Tổ, tức Hoàng đế Vĩnh Lạc chính là người xâm lược Việt Nam, dẫn đến khởi nghĩa của thủ lĩnh Mường Lê Lợi. Nguyễn Trãi gọi giặc Minh là “cuồng Minh” thừa cơ gây họa.

Tức là, ngay cả thời phong kiến, quyền lực của vua cực lớn, bao trùm cả thiên hạ, nhưng vì đi lên từ khởi nghĩa, từ cướp chính quyền[1], nên nỗi lo sợ cát cứ, mất tập quyền vẫn dẫn họ đến một tâm lý quái đản về “siêu quyền lực”. Họ thành lập một công cụ đặc biệt hắc ám là Cẩm y vệ, qua đó nắm bắt kìm kẹp sai bảo tất tần tật các quan chức trong triều đình và dưới địa phương. Ông hoàng đế chỉ trở thành chuyên chế (hoàng đế chuyên chế) khi ông ta nắm trong tay mình một cơ quan mật vụ hoàng gia có quyền lực vượt qua tư pháp. Hay nói ngược lại, khi một hoàng đế, một quốc trưởng … nắm trong tay một cơ quan như Cẩm Y Vệ, Gestapo, Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD, lúc đầu là Cheka và sau này là KGB), … đều có “siêu quyền lực” của một nhà chuyên chế.


[1] Trước nhà Minh là nhà Nguyên. Nhà Nguyên bản chất là đế chế Mông Cổ. Đây là đế chế cực lớn  và cực kỳ cởi mở. Nhờ đế chế này mà văn minh phương Đông và văn minh phương Tây gặp nhau. Đế chế Mông Cổ rất rộng lớn, bên phía Tây bắt đầu từ vịnh Ba Tư của vùng biển Arap, với dải Lưỡng Hà nổi tiếng, băng ngang bề mặt trái đất đến bên phía Đông là Triều tiên và biển Nhật Bản. Tuyến đường bộ được bảo đảm an ninh rất cao, cùng hệ thống bưu trạm dùng ngựa rất tốt, nên lưu thông từ Đông qua Tây rất thuận tiện cho các nhà buôn, khách du lịch, bưu chính và quân đội.

Ta có thể thấy Con đường tơ lụa (Silk Road) nổi tiếng hiện rõ trên bản đồ. Nó là tuyến đường bộ băng ngang đế quốc Mông Cổ. Điểm bắt đầu là từ thành phố Tyre trên bờ biển Địa Trung Hải và kết thúc ở thành phố Hàng Châu trên biển Hoa Đông. Tyre là thành phố rất cổ, xưa thuộc nước Phoencia, nổi tiếng nhờ trận hãm thành của Alexander Đại Đế. Ngày nay Tyre là thành phố thuộc nước Liban. Marco Polo đã đi một mạch từ Venice bên bờ Tây sang Hàng Châu. Đây chính là thời kỳ Pax Mongolica mà thế giới được hưởng lợi nhờ trao đổi thương mại, văn hóa giữa Đông và Tây vô cùng nhộn nhịp.

Khi đế quốc Mông Cổ phát triển lên đỉnh cao, hòa bình và thịnh vượng, quân đội Mông Cổ kiểm soát các tuyến đường giống như hệ thống bưu chính hiện nay mà họ gọi là Yam. Họ đặt các trạm bưu chính cách nhau vài chục km, mỗi trạm có ngựa, thức ăn và chỗ nghỉ. Sao cho các kỵ sĩ truyền tin chạy liên tục và tiếp sức nhau có thể đưa thư với tốc độ 200-300km/ngày. Quân đội của họ tiến quân rất nhanh, nhưng quân bưu của họ còn nhanh hơn. Hệ thống này về sau được Nga Hoàng (ở Nga) và Minh Mạng (Việt Nam) áp dụng. Tiếc rằng quan lại Việt Nam tham nhũng, chuyên lấy ngựa công ở trạm để chở vợ con đi chùa và ăn cưới, nên hệ thống bưu trạm của Minh Mạng sụp đổ.

Thể chế chính trị nhà Nguyên khá là lỏng lẻo, họ có một ông Đại Hãn (Great Khan) đứng đầu (ví dụ Hốt Tất Liệt, ở Bắc Kinh) và các ông Hãn khác đứng đầu các Hãn quốc (các Khanate, như trong hình trên). Các Khanate tương đương các tiểu bang ở mô hình liên bang hiện nay.

Ở các vùng đất của người Hán, các vị Đại Hãn kể từ Kublai (Hốt Tất Liệt) đặt các chức quan chính trị-quân sự để cai trị. Chức quan này tiếng Hán phiên âm từ Mông sang là quan “Đại Đoán Sự”, nhưng do chế độ chính trị song ngữ nên chức quan này có thêm một tên Hán hoàn toàn là “Hành tỉnh thừa tướng”, gọi tắt là thừa tướng. Còn cơ quan hành chính do ông quan này quản lý gọi là “Hành thượng thư tỉnh sự”, gọi tắt là “Hành tỉnh”. Khi Chu Nguyên Chương mới lên ngôi, ông ta cũng có vị Thừa tướng vốn là liên minh của mình. Sau đó ông chém hàng vạn người liên quan đến vị thừa tướng này, xóa bỏ chức thừa tướng, rồi phân bổ quyền lực của vị chí này xuống lục bộ trong triều đình. Bước tiếp theo mới là việc thành lập Cẩm y vệ.

Giới quý tộc Mông Cổ là tầng lớp cao nhất, nắm quân sự. Tầng lớp thứ hai là Sắc Mục, một từ để chi chung những người Ba Tư, Ả rập, Nữ Chân, Duy Ngô Nhĩ và châu Âu làm trong chính quyền Mông Cổ thì nắm thương mại, tài chính và tri thức. Người Hán đứng thứ ba, là các chức thư lại. Cuối cùng là người phương Nam là những người từ vùng phía nam sau khi Hốt Tất Liệt chinh phục xong Nam Tống.

Có một chi tiết nhỏ , đó là Vân Nam, một vùng đất giáp Đại Lý, Nam Chiếu và An Nam, tuy đã bị Hán hóa nhưng ngôn ngữ vẫn rất địa phương (Choang, Môn-Khmer, Miến Tạng, … tức là các ngôn ngữ khá gần tiếng Việt cổ), và vẫn rất “thiếu văn minh”. Trước khi bị nhà Đại Nguyên (Đại Mông Cổ) xâm lược, họ hoàn toàn không biết đến Khổng Tử, họ chỉ biết đến … Vương Hy Chi. Quân Mông tràn xuống mang theo văn minh Hán vào Vân Nam. Học thuyết Khổng Mạnh lúc này mới đến Vân Nam, Khổng tử được coi là Hán phật. Mật tông Tây tạng vốn dominate toàn bộ Đại Lý, Nam Chiếu, Vân Nam bắt đầu nhường chỗ cho Thiên tông. Như vậy, không chỉ kết nối văn minh Đông Tây, đế quốc Mông Cổ còn kết nối văn minh Nam Bắc (Trung Hoa) thông qua các chiến dịch chinh phục phương Nam.

Tôn giáo ở đế quốc Mông Cổ cũng tự do, các nhánh của Kitô giáo, Islam, Đạo giáo và Phật giáo được tự do phát triển. Tháp Mật Tông (stupa) đầu tiên được xây ở Đại Đô (Bắc Kinh) là ở thời này, do một kỹ sư Nepal thực hiện. Kitô giáo ở đế chế Mông Cổ có tên gọi (phiên âm từ tiếng Mông qua tiếng Hán) là đạo “Dã lý khả ôn”, nghĩa đen là đạo của những người được ban phước lành.

Trong một thể chế đa nguyên về tôn giáo, sắc tộc, quốc tịch, và tản quyền (nhưng thống nhất về hành chính và tập quyền về quân sự), đế quốc Mông Cổ (nhà Nguyên) phát triển cực kỳ mạnh. Về tri thức, họ truyền bá chữ số Arap, thiên văn, lịch pháp, hình học cầu… vào Trung Hoa. Họ dịch rất nhiều tác phẩm khoa học lớn từ tiếng Arap qua tiếng Hoa, đặc biệt là sách về thiên văn, y học, dược, bản đồ, hình học và số học và ti tỉ các sách xem tướng, bói họa xem phúc. Sách hình học Euclid được dịch vào thời này, tên của Euclid phiên qua âm Arap (Uqlidis) trở thành “Ngột Hốt Liệt” trong Hán tự. Xem thêm văn minh Hồi ở đây.

Trong thời nhà Nguyên, ở Thượng Đô (nay thuộc Nội Mông ở Trung quốc), nhà nước đã cho xây đài thiên văn (Khâm thiên giám) dựa trên khoa học và công nghệ Muslim, gọi là Hồi Hồi Khâm Thiên Giám. Tuy nhiên kiến thức khoa học của thế giới Hồi giáo (là đỉnh cao lúc bấy giờ, mà ứng dụng nổi tiếng nhất là chế ra đại bác) đã không đi vào được nền văn minh Hán. Sau này các học giả Trung Quốc gọi giai đoạn Pax Mongolica này là Làn sóng văn minh phương Tây lần thứ nhất. Họ cho rằng, làn sóng này “thất bại” do nền văn minh Hán từ chối tiếp thu.

Các lều trướng của các vị Hãn đều quay về phương Nam. Nên bên tả của họ tức là phương Đông, còn bên hữu là phía Tây. Anh em nhà Genghish Khan (Thành cát tư Hãn) được cấp đất phong vương bên phía Đông gọi là Tả Vương, bên phía Tây gọi là Hữu Vương. Tức là, có thể thấy trình độ thiên văn học của đế quốc Đại Mông rất cao. Đứng trên thảo nguyên bằng phẳng, mênh mông cỏ xanh, trên đầu là vòm trời sao rộng lớn, họ không chỉ biếtmặt trời mọc đằng đông, lên đỉnh vào trưa, và lặn về tây; mà còn biết con đường mặt trời đi mỗi mùa mỗi khác, mỗi ngày mỗi khác, mặt trời chỉ mọc chính đông và chính tây vào ngày “phân”, và vào buổi trưa mặt trời ở cao nhất cũng vẫn ở phía trước mặt nếu đứng quay mặt về phía nam. Ngày mà vào buổi trưa mặt trời lên cao nhất là ngày “hạ chí”.

Đứng trên mặt đất bằng phẳng và rộng lớn, ta có cảm giác mình đứng trên mặt đất phẳng hình vuông, và vòm trời hình cầu úp lên mặt phẳng đất. Quay lưng về Bắc, mặt nhìn về Nam, bên trái là Đông, bên phải là Tây, hằng ngày sẽ thấy mặt trời mọc lên bên trái (AM), đi qua vòm trời, lặn về bên phải (PM). Nhưng chỉ có ngày “xuân phân” và “thu phân” (“vernal equinox” và “autumnal equinoxe”) là mặt trời mọc lên ở “chính đông” rồi lặn ở “chính tây”, chia ngày và đêm thành hai nửa bằng nhau. Vào giữa trưa (noon) mặt trời lên cao nhất (trong ngày). So các điểm cao nhất của noon, thì ngày “đông chí” (Winter solstice) là thấp nhất, ngày “hạ chí” (Summer solstice) là cao nhất. Nếu là dân ở bán cầu bắc (như Mông Cổ, Trung Hoa), ngay cả vào “chính ngọ” họ sẽ vẫn thấy mặt trời ở phương Nam. Đây là lý do cung điện, nhà cửa đều quay về phương Nam. La bàn cũng gọi là “kim chỉ nam”. Nhưng ở phương Nam, chính trị, văn hóa, thậm chí cả thủ đoạn, người ta vẫn (kỳ quặc) sùng bái và copy phương Bắc, trong đó có Cẩm y vệ.

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong phát triển và được gắn thẻ , , , , , , , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.