Hậu đại dịch

Bất kể đại dịch sẽ kết thúc thế nào, và bao giờ nó kết thúc, thì sau đại dịch sẽ có một việc ai cũng phải làm: kiếm sống và ổn định lại cuộc sống.

“Thế giới sau đại dịch sẽ ra sao” tiếp tục là một câu hỏi ngỏ chưa có lời đáp. Nhưng có một thứ ở Việt Nam ai cũng sẽ phải đối diện, dù là người dân, doanh nghiệp, hay chính phủ: kinh tế  khó khăn, hoặc cực kỳ khó khăn; kéo dài 12 tháng, 18 tháng, hoặc lâu hơn nữa.

Chính phủ hiện tại đang ở năm cuối nhiệm kỳ. Tôi có cảm giác họ hy sinh kinh tế (và chấp nhận tiềm ẩn bất ổn xã hội) để chống dịch. Chống dịch mà thất bại, lãnh đạo nhiệm kỳ này sẽ mất hết uy tín (trong và ngoài đảng). Chống dịch thành công thì hậu quả kinh tế xã hội có tồi tệ thế nào, ngân sách có thâm hụt ra sao, đó là việc của lãnh đạo… nhiệm kỳ sau.[1]

Nhưng điều đó không quan trọng lắm, bởi ai rồi cũng sẽ phải kiếm sống và ổn định cuộc sống của mình. Điều quan trọng là chính phủ (dù lãnh đạo mới hay cũ) sẽ đưa ra những chính sách gì để thúc đẩy kinh tế xã hội hậu đại dịch. Chính sách tốt sẽ rút ngắn thời gian vật lộn, chính sách tồi sẽ đẩy nền kinh tế Việt Nam vào suy thoái.

Các chính sách “cứu doanh nghiệp” không phải là chính sách tốt lắm vì nó rối rắm, khó thực hiện, hiệu quả không rõ ràng. Bên cạnh đó, chính sách vung tiền ra với các “gói” giải cứu cũng không hay ho gì cho lắm, bên cạnh chuyện tham nhũng, xin cho, thì còn là chuyện muôn thủa: ngân sách rất eo hẹp, và ngày càng eo hẹp.

Thay vào đó chính sách cứu ngành có thể đơn giản hơn, dễ thực thi hơn, và nhanh có tác dụng hơn. Ngành ở đây, xin lưu ý, không phải là gái ngành. Tất nhiên khi một số ngành khác được giải cứu, gái ngành cũng sẽ được cứu theo.

Ngành đầu tiên cần cứu chính là du lịch inbound. Bởi, thứ nhất, nó là ngành mang lại ngoại tệ nhanh nhất (xuất khẩu tại chỗ). Và, thứ hai, nó bao trùm rất nhiều lĩnh vực dịch vụ: vận tải hành khách (bao gồm cả hàng không), khách sạn, nhà hàng, quán bar… (Cũng xin lưu ý là so với các ngành khác, ngành du lịch là ngành khá là năng động và đủ năng lực cạnh tranh ở tầm khu vực để có thể kéo khách quốc tế trở lại Việt Nam.)

Cách cứu cũng không cần quá phức tạp, chỉ cần: miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (24 tháng), miễn thuế thu nhập cá nhân cho tất cả những lao động nhận lương từ các doanh nghiệp này (cũng 24 tháng). Và giảm 50% thuế VAT.

Ngành thứ hai cần cứu, là giáo dục từ mầm non đến hết tiểu học (cấp 1). Cách cứu cũng đơn giản là miễn hoàn toàn thuế như trên; cộng thêm miễn phí tiền điện, nước, internet, mặt bằng (nếu là của công)… Với các trường công, có thể miễn học phí hoặc phát sữa miễn phí cho các cháu. Khi trẻ con được chăm sóc tốt, phụ huynh sẽ yên tâm lao động kiếm tiền.

Ngành thứ ba cần cứu, đó là các ngành sản xuất thâm dụng lao động và phục vụ xuất khẩu, ví dụ dệt may, da giày, phần mềm. Hàng triệu người đang làm trong các lĩnh vực này. Nếu bỏ hoàn toàn thuế, phí liên quan đến khu vực sản xuất gia công phục vụ xuất khẩu, chỉ giữ 50% thuế VAT,  chắc chắn sẽ tạo thêm lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu. Thậm chí có thể phải bỏ hẳn thuế phí như vậy 36 tháng.

Nếu các ngành kinh tế nói trên sống lại, nhà nước chỉ cần thu 50% VAT là đủ sống rồi. Vả lại, nhà nước ăn của dân không từ một thứ gì, ăn tàn phá hại suốt bao năm nay, thì sau đại dịch này cũng nên nhịn đói để cho dân sống.[2] Sẽ rất tốt cho quốc gia, nếu vì đói quá mà quy mô nhà nước giảm đi một nửa. Nhân dân thay vì nuôi một bầy sâu, sẽ chỉ phải nuôi nửa bầy. Riêng đoạn này, cũng đã giúp phục hồi kinh tế. Bầy sâu ấy, dân gian gọi là “quân ôn dịch”.[3]

Cuối cùng, vẫn phải có một thuế gì đó tăng lên mãi mãi, chính là thuế bất động sản, để chống đầu cơ; và một thuế phải bỏ đi trong tương đối dài hạn, đó là thuế xăng dầu, để nhân dân bớt đi một khoản chi mỗi tuần.

Và sau chót, có một điều cần phải nhắc lại dù nó đã bị lãng quên: Xã hội dân sự (Civil society, xã hội công dân). Việc nhà nước ra sức chống phá xã hội dân sự dẫn đến tình trạng khi có thảm họa thì nhà nước phải gánh vác một mình. Nay đến lúc nhà nước ngừng công việc sai trái này lại, đừng ra sức tuyên truyền chống phá xã hội dân sự như một thế lực thù địch nữa.


[1] Tôi có cảm giác chống dịch của chính phủ cũng vẫn bị ám ảnh bởi bệnh thành tích. Thành tích, đến lượt nó, lại tiếp tục ám ảnh bởi các chỉ tiêu. Chỉ tiêu, đến lượt nó, thể hiện qua các con số thống kê thật đẹp và siêu tưởng.

[2] Khi đại họa xảy ra, một trong những việc chính phủ làm rất nhanh: xin và quyên góp tiền từ nhân dân. Điều này rất kỳ quặc về đạo đức. Khi kinh tế phát triển, các vị chia chác biệt thự và đô la với nhau. Tướng hải quân từ biển đảo còn lao vào đất liền ngoạm miếng đất như sợ mất phần. Lúc kinh tế khó khăn, việc đầu tiên họ nghĩ đến là xin tiền dân.

[3] Trong truyện Thủy hử : “Mục kim kinh sư ôn dịch thịnh hành, dân bất liêu sanh: Nay ôn dịch đương lan tràn ở kinh sư, dân không biết nhờ vào đâu mà sống được.”

Ôn (瘟) chính là dịch bệnh truyền nhiễm. Tiếng Việt có các từ quân ôn (軍 瘟) , hoặc quân ôn dịch, để chỉ dịch bệnh đi thành đàn thành lũ. Đồ ôn dịch được dùng như từ để chửi, rủa. Dân gian cho rằng Hàn Tín là kẻ cầm đầu đám ma quỷ, âm binh được gọi chung là hung thần (trong đó có quân ôn) đến từ Trung Hoa này. Còn vị nho sĩ An Nam dũng cảm chống lại và sau này lại … cầm đầu đám quân ôn này là Di Thanh đời Trần.

[4] Cập nhật thêm con số. Hôm nay bộ trưởng Dũng của bộ tài chính cho biết: “ở phương án tích cực nhất khi dịch kết thúc vào quý II, tăng trưởng GDP đạt 5,3%, giá dầu bình quân 35 USD một thùng và khoản thu từ thoái vốn, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước không đạt, thì ngân sách Nhà nước sẽ hụt thu 140.000 – 150.000 tỷ đồng.” Như vậy là vừa hụt thu so với kế hoạch, vừa chi ngoài dự kiến 62.000 tỷ.

———————————————————————–

Phải-Trái Corona

Tôi đang tự hỏi: con virus corona nó ở cánh nào, tả hay hữu? Có khi nào nó là một chiến sỹ cánh tả nhiệt thành, và đến lúc này, nó đang là ngọn cờ đầu với nhiều chiến công nhất?

Đại dịch cúm tàu chỉ trong vài tháng đã phủ khắp toàn cầu. Đồng thời nó cho tất cả những thứ sau đây một bài test choáng váng: chủ nghĩa toàn cầu hóa, các hệ thống chính trị dân chủ kiểu phương tây, các nền kinh tế tự do, và những vị lãnh đạo đứng trong thể chế pháp quyền.

Cũng trong thời gian ấy, con virus Vũ Hán biến ước mơ “thế giới đại đồng” của những lãnh đạo cộng sản kinh điển ngày xưa đến gần hiện thực hơn bao giờ hết: chứng khoán tan tành khắp nơi, thất nghiệp khắp nơi, phá sản khắp nơi, đóng cửa nhà thờ (công viên, bãi biển, quảng trường …) khắp nơi.

Các nhà nước chuyên chế bỗng nhiên như cứu được hàng ngàn nhân mạng, nếu đem so với các nhà nước dân chủ và tự do.

Công dân các nước tự do bỗng nhiên thấy mình phụ thuộc chính phủ nhiều hơn trước; còn các chính phủ tư bản bắt đầu nghĩ đến bailout, trợ cấp và thậm chí quốc hữu hóa, bắt đầu từ các bệnh viện tư nhân. Ngay cả ở Việt Nam, người ta bắt đầu nói về mô hình hợp tác xã.

Và quan trọng nhất: biên giới và giao thương các nước trên thực tế đã đóng lại.

Chừng nào chưa có vaccine thì chưa khống chế được dịch bệnh. Dịch có thể dừng lại trong vài tuần tới. Và cũng có thể sẽ quay lại mùa đông năm sau, hoặc những năm sau nữa. Có khả năng corona là một con virus cánh tả cực kỳ bất khuất.

Đế chế Hoa Kỳ, liệu có giã từ thời kỳ đỉnh cao trong vàng son chói lọi của mình, giống như thời vàng son của Đế chế La Mã thoái trào sau cơn dịch hạch Antonine (Antonine Plague). Và có lẽ nào Pax Americana cũng sẽ tan tành như Pax Romana.

Toàn cầu hóa liệu có tành bành sau cơn dịch bệnh này? Quyền lực kinh tế và chính trị sẽ dịch chuyển từ Anh-Mỹ và đồng minh của họ đi đâu? Liệu họ có, một lần nữa như sau WWII, lại đứng dậy chói lòa? Hay sẽ như Byzantine của Phương Tây bị Ottoman của Phương Đông nuốt mất.

Địa chính trị bỗng dưng trở thành địa kinh tế. Nước nào lo kiếm ăn nuôi dân nước đấy. Cuộc chiến không gian sinh tồn có khia nào trở lại với biển Đông, nơi đã và mãi là xa lộ (trong mơ) để mở rộng không gian sống của Hán tộc xuống vùng Đông Nam Á?

Dịch bệnh rồi một ngày nào đó sẽ hết, nhưng trật tự thế giới sẽ thay đổi hoàn toàn?

Một thế giới “hậu corona” chắc chắn không còn như trước đó. Chủ nghĩa toàn cầu (globalism) thụt lùi, nhường chỗ cho chủ nghĩa quốc gia (nationalism) và chủ nghĩa cát cứ (isolationism). Ngay cả ở Việt Nam những ngày đầu tháng tư, chủ nghĩa địa phương có vẻ như đang sống lại.

Khắp nơi trên thế giới, con người phụ thuộc nhiều hơn nữa vào công nghệ. Chính phủ cũng sẽ lạm dụng công nghệ để kiểm soát người dân. Privacy sẽ phải nhường thứ tự ưu tiên của mình cho security. Các đại công ty công nghệ có vai trò giống như các định chế quốc tế bây giờ. Còn các định chế quốc tế như WHO hay UN mất dần đi vai trò vốn có của mình, bởi thế giới không còn nhiều ham hố trong việc hợp tác quốc tế.

Nhưng quan trọng là hành vi con người sẽ thay đổi, như nó đã thay đổi rất nhanh trong giai đoạn bùng nổ internet/mạng xã hội/mobile. Chính phủ nào thiếu khôn ngoan, tinh tế, và tri thức rất có thể sẽ để tuột việc kiểm soát xã hội khỏi tầm tay: hỗn loạn, cát cứ, vô chính phủ … sẽ là điều không tránh khỏi.

*

Từ năm 2003, nhà vật lý thiên văn đáng kính người Anh là Lord Martin Reese đã viết một cuốn sách có tên Our final hour: A Scientist’s Warning: How Terror, Error, and Environmental Disaster Threaten Humankind’s Future In This Century—On Earth and Beyond. Ông cũng đi nói chuyện khắp nơi về đề tài này.

Theo ông, thế giới ngày càng trở nên kết nối hơn (vận tải – hàng không, viễn thông – internet, các chuỗi cung cấp – toàn cầu hóa) nên vì thế nó trở nên mong manh hơn với các thảm họa. Ông cho rằng các mối nguy từ khủng bố, chiến tranh mạng, chiến tranh sinh học đều có thể gây tác hại toàn cầu. Ông cũng cho rằng dịch bệnh tự nhiên mới là cái ông e ngại nhất bởi ngay khi nó bùng phát nó sẽ làm quá tải hệ thống y tế và dẫn đến chết người. Trong một ví dụ về dịch bệnh, ông dự báo một căn bệnh do virus, bùng phát ở một megacity (cỡ chục triệu dân), ở một nước đang phát triển (ông ví dụ là Ấn Độ). Cuối cùng thì một bệnh dịch như vậy đã xảy ra, ở Vũ Hán (11 triệu dân), Trung Quốc, với con virus cúm dơi. Marin Reese cũng dự đoán các quốc gia sẽ có những cách ứng xử khác nhau với bệnh dịch, ông ví dụ Trung Quốc và Anh: Trung Quốc sẽ bất chấp freedom để tập trung vào security.

Đế chế La Mã khổng lồ ngày xưa là một phiên bản thô sơ (trước công nghiệp hóa) của toàn cầu hóa. Họ đồng bộ lịch. Họ có hệ thống đường giao thông rộng khắp và kết nối khắp nơi. Lương thực của họ phụ thuộc chuỗi cung cấp “toàn cầu”.  Khi dịch hạch Antonine bùng phát, khoảng 25% người bị nhiễm tử vong. Nó bùng phát hai lần dẫn đến khoảng 30% dân số qua đời, và do đó trực tiếp tàn phá sức mạnh của quân đội La Mã. Chuỗi cung ứng lương thực bị ảnh hưởng, dẫn đến nạn đói ở Roma, gây ra bất ổn và loạn lạc ở thành phố số một thế giới lúc bấy giờ. Sau nạn dịch này, đế quốc La Mã bắt đầu thoái trào.

Lịch sử có thể lặp lại, chỉ có điều ta không biết đế chế nào sẽ sụp đổ vì bệnh dịch: Mỹ, Tây Âu hay Trung Quốc. Dù đế chế nào sụp đổ, trật tự thế giới có thay đổi ra sao, thì Việt Nam có vẻ như chưa kịp chuẩn bị gì, tầm nhìn vẫn ở bên trong cơn dịch, và bởi vậy sẽ cứ mãi là một kẻ bên lề.

*

Bài hát nổi tiếng của Phan Nhân, Hà nội niềm tin và hy vọng, có một phiên bản cực kỳ hay do một ca sỹ “Sài Gòn cũ” tên là Lệ Thu ghi âm một năm sau thống nhất (1976).

Đường lộng gió thênh thang năm cửa ô.
Nghe tiếng cười không quên niềm thương đau.
Hà Nội đó, niềm tin yêu hy vọng
Của núi sông hôm nay và mai sau.

Chừng nào vẫn chưa có vaccine đại trà thì chừng đó chưa thể “kiểm soát được dịch”. Dịch bị chặn ở chỗ này, có thể bùng phát ở chỗ khác; dịch chặn được lúc này, lúc khác nó lại tòi ra. “Đang kiểm soát được dịch” chỉ có giá trị tuyên truyền và trấn an đám đông, cho đến khi không thể trấn an được nữa. Đừng tin vào tuyên truyền, mà tin vào chính mình, bảo vệ chính mình, gia đình, và cộng đồng quanh quanh mình khỏi bệnh dịch. Thật bình tĩnh và can đảm, ngay cả lúc mình và người thân mình “dương tính”. Nói thì dễ, làm thì khó, nên phải tin và hy vọng, ngay từ bây giờ.

Không phải Bạch Mai cố lên, không phải Hà Nội gắng lên, mà Hà Nội giờ đích thực là niềm tin và hy vọng của hôm nay và mai sau.

 

 

 

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.