8/3, cô Noether và nữ quyền ở VN

Cô Emmy Noether (1882-1935) là nhà toán học và vật lý lý thuyết người Đức gốc Do Thái.

Vì công trình nổi tiếng nhất của Noether liên quan đến đối xứng (symmetry) nên phần giữa và phần cuối bài còn nói đến Phân tâm học của Pauli và Jung.

And the silver in her hair shines in the cold November air
You hear the tolling bell
You take her frail hand
And hold on to the dream.

Pink Floyd – Gunner’s Dream

“Súng gươm vứt bỏ” chẳng thể nào “lại hiền như xưa” được nữa.

*

Sống ở cái thời chuyển tiếp giữa thế kỷ 19 và 20 ấy, như bao cô gái khác Noether có rất ít lựa chọn xã hội. Cô được dạy dỗ và đào tạo để làm một cô giáo dạy “ngôn ngữ hiện đại”, tức là môn tiếng Anh và tiếng Pháp. May mắn là Noether có khiếu ngôn ngữ, có cả khiếu âm nhạc, cô chơi piano rất tốt. Nhưng may mắn hơn nữa (và cũng không may mắn), cô có cha là nhà toán học: cô vào đại học, học toán, và khi trưởng thành cô theo ngành toán.

*

Hồi đó làm toán và vật lý là cái gì đó rất là danh giá, tháp ngà. Đàn ông mà gia thế xoàng xĩnh, như Einstein, cũng khó bước chân vào tháp ngà khoa học. Ông phải đi làm nhân viên phòng đăng ký sáng chế. Ngay cả khi  đã có các công trình rất hoành tráng là lý thuyết photon và lý thuyết tương đối (1905), Einstein cũng rất vất vả bon chen mất mấy năm để được đi dạy đại học (nhưng lúc được đi dạy rồi thì ông lại chán vãi ra).

Cha của siêu nhân Pauli, thậm chí còn phải cải đạo từ Do Thái qua Công giáo La Mã để có chân giảng viên đại học. Và đó là may mắn để Pauli thành tài. Chính Pauli cũng phải rửa tội theo nghi thức Công giáo, với cha đỡ đầu là nhà vật lý kiêm triết gia danh tiếng Ernst Mach. (Xem thêm về tư tưởng của Mach ở đây)

Mach cũng có thể là người kỳ thị giới. Ông bảo các nhà phân tâm học là cái bọn dùng bím đàn bà làm ống nhòm để tìm hiểu thế giới. (Tôi hay vận dụng câu này vào ngôn ngữ thường ngày. Tôi bảo mấy ông bạn sát gái của tôi là anh đừng tưởng mình sưu tập ống nhòm, chính ống nhòm sưu tập anh đấy).

Kể lể như thế để biết Noether khó khăn thế nào khi trở thành giảng viên đại học và được làm toán.

Năm 1915, bất chấp việc được cả Hilbert và Klein, hai tên tuổi toán học lớn nhất lúc đó, tiến cử, phải mất khá nhiều công sức (của đồng nghiệp) Noether mới được Đại học Gottingen nhận làm giảng viên. Việc chống đối, ta có thể đoán được, đến từ các giáo sư bên các ngành xã hội. Lúc này Noether còn tương đối trẻ. Một giáo sư phản đối nhà trường nhận Noether làm giảng viên, ông này lập luận: khi những người lính từ mặt trận trở về giảng đường đại học (lúc này là thế chiến 1), họ sẽ nghĩ gì khi ngồi học dưới chân một người đàn bà. Hilbert trả lời: Chúng ta là trường đại học chứ không phải nhà tắm công cộng.

Năm đầu ở Gottingen, để được dạy đại học, cô Noether phải nhờ giáo sư nam (Hilbert) đứng tên lớp. Vậy nên cô đi làm mà không có lương. Bất chấp những rào cản ngớ ngẩn ấy, cô vẫn là giảng viên tận tụy và có khiếu sư phạm nên học sinh rất yêu mến. Tất nhiên rồi, hơn ai hết, cô hiểu việc đi học là khó khăn thế nào. Hồi còn là sinh viên, có những giáo sư từ chối giảng khi cô, một nữ nhi, ngồi dưới giảng đường. Nhưng Noether không phải dạng nhu mì. Đối với những tay nam giáo sư tỏ thái độ miệt thị cô, cô đáp trả bằng những lời lẽ sắc xảo, có lẽ cay độc chẳng kém miệng lưỡi Pauli là bao. Vì thế, cô lại càng bị bọn nam giáo sư khối C ghét. Thật thiếu may mắn cho cô, bọn đấy không biết lảy Kiều.

Năm 1915/1916, Einstein công bố Thuyết tương đối tổng quát. Cũng vào năm 1915 David Hilbert đề nghị Noether (lúc này đang làm toán đại số) khảo sát và làm rõ bảo toàn năng lượng trong Thuyết tương đối. Đến năm 1918 thì Noether có công trình toán học mà sau này được công nhận là có vai trò rất lớn trong vật lý hiện đại. Công trình này góp phần rõ thêm Thuyết tương đối tổng quát, được cả hai siêu sao David Hilbert (toán) và Albert Einstein (vật lý) ca ngợi.

*

Trong hóa học người ta từ lâu đã biết đến Định luật bảo toàn khối lượng. Rồi trong vật lý người ta biết đến Định luật bảo toàn năng lượng. Einstein thì chứng minh khối lượng và năng lượng tuy hai nhưng lại là một. Nhưng cái sự bảo toàn ấy nó có vẻ hiển nhiên quá nên không ai tìm tòi xem bản chất thực của nó (bằng toán học) là gì. Noether đã làm việc ấy. Công trình của cô ngày nay mang tên Định lý Noether.

Định lý Noether kết nối bảo toàn với đối xứng. Lúc ra đời, định lý này cũng được ít người để ý (ngoại trừ những bộ óc như Einstein). Phải đến khi vật lý hạt phát triển, người ta mới thấy giá trị thực sự của Noether. Ngày nay, Định lý Noether được coi là một trong những định lý đẹp đẽ nhất của vật lý. Tất nhiên rồi, đối xứng luôn là cái gì đó đẹp và bí ẩn, trong tự nhiên, trong mỹ thuật và trong toán học. Wolfgang Pauli (Nobel Vật Lý 1945) còn sùng bái đối xứng đến mức ông và Carl Jung mang đối xứng (symmetry), đối ngẫu (dualism) và nguyên lý bổ sung Bohr (complementarity), tất cả đều là các nguyên lý của vật lý, vào Phân Tâm Học. Từ đó hai vị này tìm ra và đưa vào Phân Tâm Học hai khái niệm unus mundus và synchronicity (xem hình).

pauli_diagram1

jung_diagram1

Unus_Mundus_according_to_Jung_(en)

*

Định lý Noether cho ta biết, nếu một Lagrangian bình thường mà có đối xứng liên tục (trơn), ắt sẽ có bảo toàn liên quán đến cái đối xứng ấy. Nếu đối xứng về thời gian (bất biến với dịch chuyển theo trục thời gian) sẽ có bảo toàn năng lượng; đối xứng về không gian sẽ là bảo toàn động lượng, đối xứng quay sẽ có bảo toàn mô-men động lượng.

Phụ nữ thời còn mẫu quyền, tức nữ quyền toàn phần, họ có cơ thể hoàn toàn đối xứng. Đến khi phụ quyền trỗi dậy, do nhiều ông thuận tay phải hơn (một kiểu tiến hóa do thói quen săn bắn), phụ nữ bắt đầu mất tính đối xứng cơ thể của mình.

Ở đâu mất đối xứng, ở đó nữ quyền không được bảo toàn.

Và chuyện này xảy ra cuối đời của Noether. Năm 1933 Hitler lên nắm quyền. Chính quyền Nazi trục xuất các bộ óc Do Thái khỏi đại học. Noether vừa Do Thái vừa Đàn Bà, phải rời Gottingen. Bình tĩnh và can đảm, Noether mang sinh viên về căn hộ của mình để dạy tiếp. Năm 1934 Noether chuyển sang Mỹ và mất ở đó năm 1935.

*

**

Việt Nam, xét về văn hóa dân gian, cho đến nay vẫn là dân tộc mẫu quyền. Tục thờ mẫu vẫn còn rất phổ biến ở miền bắc. Chùa miền bắc, không chỉ thờ Phật, mà còn thờ Mẫu. Bất chấp một ngàn năm Bắc thuộc, bị Hán hóa, văn hóa trọng nam khinh nữ của Tàu không xóa được ý thức hệ “mẫu hệ” ra khỏi văn hóa Việt. Hai Bà Trưng, biểu tượng của mẫu hệ, chỉ bị bóp méo đi một tí, bằng việc bổ sung yếu tố “trả thù chồng”.

Đến thế kỷ 15, thời Lê, luật Hồng Đức đề cao vai trò và quyền phụ nữ, tiến bộ hơn tất cả các nước trong khu vực (Đông Nam Á), hơn luôn cả Nhật. Phụ nữ Việt được quyền sở hữu và thừa kế. Thời Lê còn tổ chức phong thần cho hai nữ tướng của Hai Bà Trưng. Đây là giai đoạn mẫu hệ Việt hấp thu thêm mẫu hệ Chăm, và hình thành văn hóa đồng bằng bắc bộ tồn tại (như dòng chảy ngầm) cho đến tận ngày nay.

Đến thời Minh Mạng đầu thế kỷ 19, ông hoàng đế này Hán hóa kinh hoàng. Đưa phụ nữ xuống tầng đáy, cướp hết quyền lợi của họ.

Hiện tượng thị hiện, vốn xuất hiện ở các dân tộc bán khai. Khi gặp gian nan, cả một tâm thức tập thể cùng lúc tác động đến cả đám đông khiến cho họ như cùng nhìn thấy ai đó hiện lên cứu độ. Với dân tộc vốn mắc kẹt nhiều ngàn năm ở đồng bằng Bắc Bộ nhỏ hẹp, lúc nguy nan họ nhìn thấy Phật Bà Quan Âm; hoặc khi bị nhà Nguyễn cấm đạo dồn vào chỗ chết họ đã thấy Đức Mẹ (La Vang) hiện lên. Theo lý thuyết của Jung và Pauli, có thể đó chính là phóng chiếu của archetype/primordial image (nguyên mẫu, cổ mẫu) trong vô thức tập thể (collective unconscious) của dân tộc chịu ảnh hưởng mẫu hệ như dân tộc Việt.

Jung Collective Archetype 1

 

Theo Jung, tất cả những cái xấu xa độc ác trong vô thức bị tách ra khỏi cái Ngã (Self) và dồn vào cái Bóng (Shadow). Cái Bóng, theo Freud, bị kiểm soát bởi cái Siêu Tôi (Super-Ego), còn Jung thì gọi cái Siêu Tôi bằng cái tên khác: Phức hợp đạo đức (Moral complex). Phức hợp đạo đức là “‘lực” cưỡng bức kiểm soát cái xấu và cái ác ẩn nấp trong phần tiềm thức của mỗi cá nhân. Nhờ đó mà cộng đồng (gồm nhiều cá nhân) mới sống với nhau ổn thỏa, biết tin nhau và biết hợp tác với nhau. Từ đó mới có xã hội loài người . Thế nhưng khi cái Bóng được kích hoạt, nó sẽ phóng chiếu vào những đối tượng cụ thể, biến đối tượng này thành “kẻ thù”.

Bằng cách kết hợp đàn áp tư tưởng (đốt sách, bóp nghẹt tự do ngôn luận) với tuyên truyền có định hướng, chế độ Nazi của Hitler đã kích hoạt thành công cái Bóng trong những người Đức tử tế và lương thiện, khiến họ phóng chiếu cái Bóng vào người Do Thái và biến dân tộc này thành kẻ thù. Ở ta cũng vậy, có thời kỳ Đảng đàn áp tư tưởng và khéo léo tuyên truyền nhồi sọ quần chúng bần nông đồng bằng Bắc Bộ cốt để kích động cái Bóng trong tâm khảm tiểu nông đói ăn. Rồi cái Bóng của nông dân phóng chiếu vào những đối tượng rất cụ thể và biến đối tượng này, mặc dù cũng là đồng bào của họ, thành “kẻ thù giai cấp”, “kẻ thù dân tộc”, “kẻ thù chế độ”, “bọn phản động”. Họ căm thù những người đồng bào này của mình và ra tay tàn độc. Cải cách ruộng đất là một biến cố lớn, nó khiến người nông dân lương thiện bỗng nhìn thấy rất nhiều kẻ thù cần phải tiêu diệt bằng bạo lực. Địa chủ, bố mẹ, ông bà, ân nhân của họ đều bị đem ra đấu tố và hành quyết. Đấu tố trong cải cách ruộng đất là một cơn tâm thần tập thể được chủ ý tạo ra  bằng cách thả “cổ mẫu kẻ thù”, một trong những cổ mẫu quan trọng và có năng lực chia rẽ nhất, ra khỏi cái Bóng. Từ đó nền tảng moral và ethics của xã hội nông nghiệp Việt Nam bị phá hủy hoàn toàn. Xã hội chính thức chuyển sang một phase khác mà hậu quả còn nặng nề đến tận ngày hôm nay. Xem thêm moral và ethics ở bài này, sự xuống cấp của nhân cách bình dân ở bài này.

Xã hội tồn tại được là nhờ có cái “norm”, cái “quy phạm” ngầm của nó về đạo đức, luân lý, cách ứng xử. Bất chấp người Việt Nam có rất nhiều khiếm khuyết về tâm lý, tính cách, trí tuệ, xã hội Việt Nam tồn tại hiền hòa cả ngàn năm nhờ cái “norm” dựa trên “thiện” và “lương”. Trên cái “norm” ấy, xã hội nông nghiệp đồng bằng sông Mã và sông Hồng không những không tôn sùng bạo lực mà còn tránh né nó. Đến thời Lê, kẻ cướp chỉ trói người chứ không giết. Thời Tây Sơn bạo lực leo thang nhưng vẫn giới hạn trong việc quân sự. Thời Nguyễn, các ông quan bảo hoàng kêu gọi “Bình Tây Sát Tả, xúi dục người dân làng này giết dân làng kia (xem thêm ở đây). Bạo lực lan ra khối dân sự nhưng chỉ trên phạm vi rất hạn chế. Nhưng từ cải cách ruộng đất, cái “norm” củ xã hội Việt Nam bị vi phạm, bị phá vỡ một cách chính thức và trên diện rộng. Theo một nghĩa nào đấy, bạo lực đã được “quy phạm” hóa, hợp thức hóa. Không ngạc nhiên gì khi ngày nay mỗi ngày mở báo ra đọc ta gặp tràn lan các vụ giết người, đánh nhau.

“Súng gươm vứt bỏ” chẳng thể nào “lại hiền như xưa” được nữa.

*

Cách mạng vô sản 1945 mang đến một chương mới về bình đẳng giới cho giới thị dân. Các nữ chiến sĩ cách mạng như Minh Khai, Thụy Nga là các tấm gương sáng về chiến đấu và sưu tầm giai nổi.

Sau 1958, ở Việt Nam Cộng Hòa, bà Ngô Đình Nhu kịch liệt đấu tranh cho nữ quyền, bà là người xóa bỏ tục đa thê trong tướng lĩnh nhà giàu ở miền Nam.

Trong kháng chiến chống Pháp, các nữ đại gia như bà Cát Hanh Long (địa chủ Năm) thường xuyên cho cách mạng bú sữa cho đến khi bị đấu tố và hành quyết. Trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, các bà má miền nam, các đội quân tóc dài có vai đóng vai trò quan trọng. Vậy nên sau 1975 ở Việt Nam có bà mẹ anh hùng, còn các ông bố thì không.

Sau 1979, Việt Nam chịu ảnh hưởng của tư tưởng Machismo (sùng bái sức mạnh con đực cơ bắp) kiểu Nga. Rồi sau 1989 là Machismo kiểu Tàu. Một lần nữa văn hóa chính trị bị Hán hóa, đâm ra bình đẳng giới và nữ quyền ở Việt Nam đâm ra chỉ còn tồn tại trên hình thức. Rồi đến một ngày việc lẩy Kiều bất ngờ trở thành biểu tượng của quyền lực. Tôi rất thắc mắc, khi các đảng viên trung kiên nước ta gặp nguy khốn, họ sẽ thấy Mác, Lê nin, Bác hiện lên; hay họ thấy Kiều hiện ra cứu giúp?

Nhưng bất chấp văn hóa triều đình Machismo nửa mùa, văn hóa dân gian vẫn đề cao mẫu hệ, lệnh ông không bằng cồng bà. Nhiều quan chức đi vào lò vì có quan bà đớp hăng quá. Hầu hết các đại gia bất động sản là nữ. Nhiều đại gia Việt Nam lọt vào danh sách tỷ phú Forbes là nhờ các nữ tướng dưới quyền.

Đó là minh chứng của nữ quyền thực sự ở Việt Nam hiện đại.

You take her frail hand
And hold on to the dream.

*

Quay lại với câu châm biếm của Mach. Mach có lẽ hơi thái quá khi chế diễu quan điểm của Freud về việc sử dụng libido (dục năng, khát dục, xung lượng tình dục) để giải quyết tất tần tật mọi thứ trên đời. Carl Jung cũng phản đối, nhưng tiết chế hơn, ngoài libido ông còn đưa ra các drive (xung năng) khác (hunger, activity, sexuality, creativity, reflection). Jung cũng đưa các khái niệm vật lý rất quan trọng và hiện đại ở thời của ông vào Phân Tâm Học: trường (field) cho các trường tâm lý (psychic field) và năng lượng (psychic energy) của nó chính là libido/sex, hunger và aggression.

Ông viết rằng “Nếu ta hình dung libido như energy, ta có thể có được cái nhìn tổng quát và thống nhất … giống như cái nhìn ta có được trong vật lý bằng cách sử dụng các lý thuyết về năng lượng”.

Jung cho rằng tâm lý con người có thiên hướng đi tìm những thứ “có ý nghĩa”, “quan” trọng”, nên các trải nghiệm có quan hệ qua lại (trong quần thể) sẽ làm cho các “psychic field” bị nạp thêm năng lượng, cho đến lúc nó bị nạp quá đà (supercharged) thì năng lượng ấy đột ngột thoát thai (emerging: đột sinh) ra khỏi các field và tạo thành archetype (cổ mẫu) của vô thức tập thể (collective unconscious).

Jung đi khá xa khi cho rằng có thể đo lường được cường độ (độ mạnh) của psychic eneger, ví dụ đo được cường độ libido. Ở phần “đo lường” này, Jung cũng rất hiểu “suy sụp” Hàm sóng Schrödinger” trong cơ lượng tử, khi người quan sát muốn đo hệ lượng tử, anh ta buộc phải tác động vào nó; vì vậy Jung rất thận trọng khi khảo sát giấc mơ, các kỹ thuật do ông phát triển cố gắng tác động ít nhất vào các giấc mơ này. Chính ông (là tay lão luyện) đã tránh trực tiếp khảo sát Pauli, mà giao cho người dưới quyền (một bác sĩ trẻ mới vào nghề).

Jung cũng phân tích các trường hợp “khải thị” của Henri Poincaré và René Descartes. Hai bộ óc lớn này đều thú nhận họ có được các  ý tưởng khoa học (thiên tài) nhờ các câu trả lời cho các vấn đề hóc búa mà họ đang tìm cách giải quyết  bỗn từ vô thức lóe lên trong trí óc. (Poincaré xem thêm ở đây).

Jung Model of Pschye

Sex, rõ ràng là đóng vai trò quan trọng trong hành vi tâm lý của con người. Mặc dù nó có vẻ như bất bình đẳng về giới trong việc giải thích sự sáng tạo của các thiên tài đàn ông, nhưng không thể phủ nhận được rất nhiều phát minh lớn của nhân loại có được là nhờ đàn ông thèm khát đàn bà.

1.

Wolfgang Pauli (1900-1958), sinh ra ở Viên, nổi tiếng trong giới vật lý lý thuyết khi còn rất trẻ. Năm 19 tuổi, khi mới học xong phổ thông, Pauli đã có ba bài báo về Thuyết tương đối, khiến cho Hermann Weyl phải chú ý. Năm 21 tuổi anh viết một bài review dài 250 trang về Thuyết tương đối tổng quát, và bài viết này (cho Encyclopedia) làm Einstein phải tán thưởng. Năm 22 tuổi anh đã đến Gottingen làm việc với Max Born. Năm 1924, khi ở  tuổi 24, lúc đang làm việc ở Hamburg, nhà vật lý trẻ có năng lượng nhục dục mạnh mẽ đến mức tối nào cũng đi chơi gái ở khu đèn đỏ, và sáng hôm sau đến giảng đường rất muộn. Anh phát minh ra “Nguyên lý loại trừ Pauli” (sau này mang về cho anh giải Nobel) khi đang chơi gái như vậy. Năm 27 tuổi anh phát minh ra Ma trận Pauli. Năm 29 tuổi anh và bạn của mình là Heisenberg đã có những công trình đặt nền móng cho field theory. Về Nguyên lý loại trừ Pauli, xem thêm ở cuối bài này.

Năm 30 tuổi, khi cô vợ rất chơi của anh bỏ đi, anh bị dồn nén tâm lý đến mức… phát minh ra hạt Neutrino (những nhà vật lý tìm ra hạt này bằng thực nghiệm đã đoạt giải Nobel). Pauli “tìm ra” hạt Neutrino bằng lý thuyết, anh sử dụng toán và “bảo toàn năng lượng” trong phân rã beta. Các nhiễu động tâm lý của Pauli đã dẫn anh đến với Phân Tâm Học. Anh đi khám bệnh ở viện của Carl Jung. Đệ tử của Jung đã khảo sát 1300 giấc mơ của Pauli. Rồi Jung trực tiếp phân tích 400 giấc mơ trong số đó, rồi xuất bản thành sách. Pauli (trẻ hơn Jung 25 tuổi) và Jung phối hợp với nhau hàng chục năm (từ năm 32 tuổi đến năm 57 tuổi) để cùng nhau phát triển phân tâm học. Trao đổi thư từ của hai người về phân tâm học và vật lý cũng đã được in thành sách.

Nhờ Pauli mà Jung áp dụng thành công Nguyên lý bổ sung Bohr vào Phân tâm học. Nguyên lý Bohr giúp giải quyết quan hệ rất nghịch lý giữa sónghạt trong vật lý nguyên tử/lượng tử. Trong phân tâm học, Nguyên lý bổ sung Bohr giải quyết được các mối quan hệ đối nghịch vô thứcý thức, vật chất (matter) và tâm thức (mind), khách quanchủ quan, sự đồng tri giác biến cố ngoại cảnh (outer) và nội tâm (inner), trải nghiệm đi vào (từ ngoại cảnh đi vào nội tâm) và tri nhận đi ra (từ nội tâm ra ngoại cảnh), res extensares cogitans.  Từ đây Pauli và Jung đi đến Nguyên lý synchronicity (nguyên lý đồng hiện).

Nhờ Jung, Pauli nhìn đối xứng như là cấu trúc cổ mẫu (archetypal structure) của vật chất. Ông còn cho rằng hạt sơ cấp chưa phải là level tận cùng của vật chất. Thay vì đi tìm các hạt cơ bản là lớp dưới cùng của vật chất, Pauli cho rằng vật chất (kể cả hạt cơ bản, chỉ là sự hiển thị ra bên ngoài của vật chất, còn ở tầng sâu hơn phải là cái gì đó mà ông gọi unus mundus (vốn là một khái niệm cổ được Pauli tái sinh). Cái Unus Mundus này đồng thời cũng là địa hạt của đối xứng và ở đó sinh ra vật chất và tâm thức (matter and mind). Pauli có nói đại khái rằng, symmetry là một dạng thức của Chúa. Lúc cuối đời, Pauli còn ví von so sánh cái Ngã (Self) là hạt nhân phóng xạ (radioactivity nucleus) còn các hiện tượng đồng hiện là sự phóng xạ (radioactivity).

Liên quan đến “Của Chúa”, có một chút thú vị, là sau khi Pauli qua đời các nhà vật lý phát hiện ra có kết nối đối xứng giữa hai hạt electron và hạt neutrino. Một hạt có vai trò rất quan trọng trong cấu trúc vật chất, mang điện tích (electron), còn hạt kia thì tràn ngập khắp vũ trụ, không mang điện và chuyển động với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng nhưng có vẻ như vô tích sự. Tại sao hai hạt này hồi vũ trụ rất rất ban sơ (cực kỳ đối xứng) là hai hạt khá là giống nhau, mà đùng một phát lại khác nhau như vậy. Từ đây ông Higgs và đồng nghiệp đề xuất ra Cơ chế Higgs. Cơ chế này cho rằng vũ trụ lúc đầu “không tồn tại” theo nghĩa “không có khối lượng”. Rồi có một trường tên là trường Higg, tràn ngập khắp không gian. Ở một điều kiện đặc biệt, khi nhiệt độ vũ trụ lúc đấy đang rất cao, bỗng nguội đi một tý. Trường này (một cách tự phát) phá vỡ đối xứng (symmetry-breaking). Biến cố này tạo ra các hạt quark, electron và các hạt cơ bản có khối lượng khác. Từ đây hình thành nguyên tử. Các nhà vật lý dự đoán về hạt Higgs (hạt truyền khối lượng). Hạt này, vô tình mà chết với cái tên Hạt của Chúa.

Hơi tiếc là khi Pauli và Jung qua đời, vật lý lượng tử vẫn chưa có các các giải thích khác. Nếu sống lâu hơn, Pauli và Jung biết đâu sẽ đưa vào môn tâm lý học phân tích các cách giải thích khác của lượng tử: biến ẩn và sóng dẫn đường của de Broglie-Bohm, “many-worlds” của Everett, “objective collapse” của Penrose, và nhất là Qbism của Fuchs và Schack. Trong Qbism sẽ có những cách tiếp cận mà chủ quan của agent tác động vào khách quan hiện thực, có quan niệm trạng thái lượng tử (quantum state) không phải là thành tố của hiện thực, mà là degree of belief của agent vào kết quả khả thể của phép đo lên hệ. Cách giải thích này có lẽ rất gần với cách thức mà Jung và Pauli suy nghĩ về tâm lý và phân tích tâm lý.

2.

Giữa thập niên 1920, vật lý lượng tử đi vào giai đoạn hoàn thiện cuối cùng, nó chỉ thiếu một miếng ghép nữa là hoàn chỉnh. Chỉ cần một miếng ghép nữa là “cơ học lượng tử” sẽ hết cọc cạch và trở nên trơn tru. Nhà vật lý Schrödinger (người gốc thành Viên) lúc này 38 tuổi quyết tâm tìm ra miếng ghép cuối cùng này. Ông để vợ ở nhà, thuê một biệt thự đẹp thật đẹp ở núi Alps bên Thụy Sĩ, rồi đi lên đó với một tập giấy, hai viên ngọc trai và một cô bồ nhí cũng gốc thành Viên thật là đẹp. Ở đó, ông lấy hai viên ngọc trai nhét vào hai lỗ tai để gạt các âm thanh phiền nhiễu ra khỏi đầu. Bày biện cô gái ở trên giường, ngắm cô để có cảm hứng …làm toán. Với dục năng hừng hực do cô gái đẹp trên giường tạo ra, (có lẽ để nuôi dưỡng cơn khát dục, ông kiên quyết không chén cô), Schrödinger cuối cùng đã tìm ra Phương trình Schrodinger nổi tiếng của mình. Đó là năm 1925. Đến năm 1933 ông đoạt giải Nobel vật lý. Cô gái thành Viên (chắc là rất nõn nà) kia trở thành cô gái bí ẩn nhất của vật lý hiện đại. Rất có thể cô chính là nguyên mẫu của “Con mèo Schrödinger”: một con mèo cái vừa được chén lại vừa không được chén.

About Blog của 5xu

Một con sông sắp cạn dòng
Bài này đã được đăng trong đạo và được gắn thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.