Blog của 5xu

Ông Võ Văn Kiệt

Tháng Sáu 16, 2008 · Để lại phản hồi

Cái entry này bị chê là rườm rà, nhiều điểm trùng lặp hoặc không rõ nghĩa. Tuy nhiên lại được khen là bài viết duy lý đầu tiên về ông Kiệt (hehe, tức là các bài khác sướt mướt ngợi ca hoặc chê bai não nề quá). Nay sửa lại chút, hy vọng dễ đọc hơn. Riêng đọan chê là dài thì ko sửa được, vì đã thẳng tay cắt bỏ rất nhiều rồi mới còn được như thế.

I. Số phận

Số phận của vĩ nhân bao giờ cũng đồng hành với số phận của hàng triệu người, hoặc của cả một dân tộc. Tôi tạm chia thành bốn nhóm số phận, trong đó có ba nhóm first-tier và một nhóm second-tier. Tất nhiên bảng phân loại này không dành cho các vĩ nhân làm khoa học như Einstein hay Freud.

Nhóm 1: Những người trở thành vĩ đại vì họ tự tạo ra một cuộc cách mạng khổng lồ làm thay đổi vận mệnh hàng triệu người, của cả một dân tộc, của cả một quốc gia.

Nhóm 2: Những người trở thành vĩ đại vì họ tạo ra một lực lượng chính trị xã hội (đảng phái) có sức mạnh làm thay đổi cả một xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của cả một dân tộc.

Nhóm 3: Những người trở thành vĩ đại vì họ đặt những con người trẻ măng vô danh vào những vị trí cầm đại kỳ để rồi những lá cờ đấy đều đi đến đích thắng lợi.

Nhóm 4: Những người trở nên khổng lồ vì được một vĩ nhân khác đặt vào tay ngọn cờ để kêu gọi hàng triệu số phận đi theo.

Những người thuộc một trong ba nhóm 1, 2 hoặc 3 rất hiếm. Số phận của họ được chọn lựa bởi số phận của hàng triệu người khác hoặc cả một dân tộc. Và sự lựa chọn này sẽ làm thay đổi số phận của chính họ lẫn số phận của cả dân tộc. Một ví dụ điển hình ở Việt Nam (1945) là Hồ Chí Minh. Thực ra phải nói là duy nhất cho đến nay mới đúng vì Hồ Chí Minh có số phận bao trùm cả ba nhóm đầu tiên.

Người ở nhóm thứ tư thì nhiều hơn. Số phận của họ tuy gắn với số phận của xã hội và dân tộc, nhưng sự lựa chọn lại do một họăc một nhóm người khác quyết định. Ví dụ điển hình là Võ Nguyên Giáp.

Ông Võ Văn Kiệt có lẽ không phải là người ở nhóm 4. Nhưng chắc chắn không phải là nhóm 2. Lại cũng khó mà xếp vào nhóm 1.

Nhưng nếu phải phân định, tôi xếp ông 1/4 ở nhóm một và 2/4 ở nhóm ba và 1/4 ở nhóm bốn. Tổng vẫn đủ lớn để có một số phận vĩ đại và thành một người vĩ đại.

Cho đến nay cuộc cách mạng duy nhất thành công và gây ảnh hưởng sâu rộng đến vận mệnh dân tộc chính là cuộc cách mạng của Việt Minh với nòng cốt là lực lượng cộng sản trẻ trung, yêu nước và khát khao giành độc lập tự do về cho dân tộc. Cuộc cách mạng đấy có số phận của một cá nhân kiệt xuất thuộc nhóm một là Hồ Chí Minh, có số phận của nhiều cá nhân lớn thuộc nhóm thứ hai và thứ ba như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng…

Ông Võ Văn Kiệt cũng có mặt trong cuộc cách mạng này, nhưng ở rất xa, và lúc đó còn rất trẻ.

+ 1/4 số phận nhóm một của ông do số phận của cuộc kháng chiến chống Mỹ và số phận của miền nam lựa chọn. Đây là một sự lựa chọn màu nhiệm bởi bản thân cuộc kháng chiến đấy cũng có chiều dài thời gian, độ khốc liệt đủ để cuốn vào đấy hàng triệu số phận người Việt cũng như gây ảnh hưởng đến số phận của hàng triệu người khác thời hậu chiến. Ông Kiệt có mặt ở mọi điểm nóng kể cả ở trước và sau chiến tranh.

+ 2/4 số phận nhóm ba của ông gắn bó với thời kỳ kháng chiến (20 năm) và thời kỳ đổi mới (20 năm).

+ 1/4 số phận nhóm bốn của ông xuất hiện vào thời điểm ông Lê Duẩn ra Bắc. Ông Lê Duẩn đã tín nhiệm và đề xuất chuyển ông Kiệt về vùng Saigon.

Số phận của ông Kiệt bởi vậy gắn bó với kháng chiến, với Saigon-HCMC, với đồng bằng Nam Bộ và sau đó là với cả nước.
Số phận của ông bởi vậy cũng gắn bó với Đảng, Chính quyền cách mạng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Số phận của ông bởi vậy gắn bó với nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là nhân dân miền nam: những người kháng chiến, trí thức, doanh nhân, nghệ sỹ và thanh niên.
Và cống hiến của ông với Đảng, Chính Phủ và Người Dân (xã hội) cũng khác nhau.
Số phận của ông bởi vậy rất khác những người lãnh đạo khác của Việt Nam, cả quá khứ, hiện tại và tương lai.

II. Sức mạnh

Xuất thân từ một chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi, nổi lên thành một nhà lãnh đạo kháng chiến, ông Võ Văn Kiệt có nhiều kinh nghiệm và bản năng chiến đấu thực tế hơn là gắn tư duy mình với một hệ thống tư tưởng lý luận. Điều này khiến ông trở thành một tay chiến lược thiên về hành động, tư tưởng cởi mở, ít định kiến. Hay nói cách khác, việc ông không thuộc nhóm hai và chỉ có 1/4 số phận thuộc nhóm 4 đã biến ông thành một người kháng chiến danh tiếng, ít định kiến, ít bị chi phối top-down, dễ phất cờ thu phục lòng người và giàu tinh thần hành động.

Giống như những nhà lãnh đạo nổi bật khác, ông Kiệt có charisma bẩm sinh, và ông biết tập hợp các lực lượng dưới một ngọn cờ. Mặc dù thiếu vắng kiến thức do lăn vào cuộc đời từ rất sớm, ông Kiệt bù lại rất thạo thực tế.

Suốt 12 năm lãnh đạo nhân dân SG chống Mỹ và nhiều năm tiếp quản và vận hành thành phố, tôi tin là kinh nghiệm thực tế đáng quý báu nhất của ông chính là khả năng gom các nhóm đồng chất và đồng lợi ích thành các lực lượng cùng chí hướng dưới một ngọn cờ.

+ Ngọn cờ kháng chiến trước năm 1975.
+ Ngọn cờ phá rào cải cách cứu thành phố những năm 80.
+ Ngọn cờ làm bạn với thế giới đầu những năm 90.
+ Ngọn cờ cải cách cả nền kinh tế giữa những năm 90.
+ Và ngọn cờ hòa hợp dân tộc, tôn giáo, chính trị những năm đầu tiên của thế kỷ 21.

Dưới những lá cờ lãnh đạo trong tay ông Kiệt, ở Việt Nam dần dần hình thành những lực lượng dựa trên nhóm lợi ích và đồng chất. Xin lưu ý là khác với thời kỳ cách mạng kỳ diệu của Việt Minh và thời gian trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, gần như cả dân tộc là một lực lượng có chung mục tiêu nhưng nhiều dị biệt về lợi ích, văn hóa, tư tưởng và tôn giáo. Sau 1975 và đặc biệt là do nền kinh tế bao cấp đình trệ, ông Kiệt với năng lực thiên bẩm đã nhìn nhận và tập hợp thành công các nhóm đồng chất (văn hóa, tôn giáo, quan điểm chính trị, tuổi tác) thành các lực lượng ưu việt có chung lợi ích, và tất cả các các lực lượng này cùng phục vụ sự nghiệp đổi mới hay còn gọi là cải cách kinh tế.

Mẫu số chung cho thành công của ông Kiệt trong việc này, theo tôi chính là cách nghĩ về sự công bằng của số phận của mỗi cá nhân (không ai chọn cửa mà sinh ra) và số phận của đất nước (đất nước không phải của riêng ai). Những phát biểu có tính bất định của số phận, được một nhà lãnh đạo cộng sản nói ra, tuy không có tư tưởng lý lụân nào support, nhưng rất công bằng. Có lẽ, chỉ có người sinh ra và lớn lên ở phía nam của tổ quốc, mới có thể có tư duy đơn giản và công bằng đến như thế.

Với những lực lượng mạnh như vậy dưới ngọn cờ của mình, với khả năng lắng nghe, với thiên hướng hành động hơn là ngồi cộng trừ nhân chia, ông Kiệt đã đẩy nền kinh tế, đầu tiên là của thành phố, sau là của cả nước, vượt rào rất ngọan mục. Một trong những cú nhảy kỳ diệu nhất chính là việc thương mại hóa hệ thống ngân hàng và cho phép giao dịch vàng và ngoại tệ (thực ra bắt đầu ý tưởng từ thời ông Phạm Hùng). Cú nhảy ngọan mục thứ hai là đầu tư nước ngoài. Còn các cú nhảy khác … cũng bình thường thôi. Tuy nhiên sự kiên định ở mảng đầu tư công của ông Kiệt cũng mang lại khá nhiều đột biến trong một mảng khó nhất của nền kinh tế (mảng đầu tư). Sự kiên định của ông chỉ đơn giản ở mấy chữ liên quan đến hạ tầng (điện, đường, trường, trạm). Sự kiên định này có lẽ nên được tiếp tục kéo dài thêm mấy chục năm nữa.

III. Thành công và Thất bại

Bây giờ nhìn lại, hẳn ta sẽ tự hỏi tại sao một nhà lãnh đạo kháng chiến tài ba trong chiến tranh lại có tầm nhìn chiến lược kinh tế rất xa và rộng như vậy. Câu trả lời vẫn nằm ở trong tư chất của một nhà lãnh đạo lớn thiên về thực tiễn và hành động: dám nghĩ, và đã nghĩ là làm cho bằng được. Cũng giống như lãnh đạo trong kháng chiến, dám nghĩ và dám chiến đấu tức là dám hy sinh. Trong kinh tế là dám nghĩ dám làm và dám chịu trách nhiệm. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh tính dám làm dám chịu (tinh thần trade off rất cao) của một nhà kháng chiến ở tuổi trung niên và thủ tướng khi ở tuổi tóc bạc trắng.

Là người thiên về hành động, ông Kiệt không suy nghĩ và phát triển các idea của mình ra thành lý thuyết, thay vào đó ông nói nó ra giản dị và chân thành: “mình đi theo cách mạng có mất thì chỉ mất cái quần đùi, còn người ta đi theo cách mạng là mất tài sản, điền thổ, địa vị xã hội” hoặc “tôi làm đến thủ tướng mà còn không sợ mất chức, chức của các anh thì ăn thua gì” (mấy câu này là viết theo trí nhớ, ai cần trích dẫn chuẩn thì tự google nhé).

Một số lực lượng dưới ngọn cờ của ông Kiệt cho tới nay đã khá vững mạnh. Có thể kể đến ngân hàng, doanh nghiệp tư nhân, báo chí truyền thông.
Một lực lượng trí thức nhỏ nhưng vô cùng đặc biệt đã trở thành huyền thọai. Đó là “nhóm thứ sáu”.
Một số lãnh đạo thanh niên đã trưởng thành và có vị trí quan trọng trong xã hội.
Nhiều trí thức đã được trọng dụng.

Nhưng sự phát triển quá nhanh của kinh tế, của các “lực lượng “, của các cá nhân “đại gia” đã sớm vượt khỏi khung pháp lý của nhà nước, vượt khỏi ý thức hành xử chung của các nhóm lợi ích trong đó có chính quyền, vượt cả nhận thức sống (danh vọng và vật chất) của mỗi cá nhân và biến tiêu chuẩn đạo đức của xã hội thành lạc hậu.

Các lực lượng tuy vẫn cùng lợi ích nhưng bắt đầu có dị biệt về chất dẫn đến chỗ bị phân hóa mất đoàn kết.
Các cá nhân khi tích lũy được tư bản hoặc quyền lực trong xã hội bắt đầu suy thoái về chất.

Có cá nhân hoặc nhóm cá nhân đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của cả nhóm nghề nghiệp. Báo chí bị bệnh này. Sẽ rất khó để cân bằng lại.
Có cá nhân mạnh biết cách tích lũy nguồn lực để trở thành nguồn lực mạnh đáng kể so với các cá nhân khác. Hay nói cách khác là tự luyện công để trở thành tư bản cá mập trong nền kinh tế có mùi tư bản thân hữu. Tư bản thân hữu và tham nhũng là hai mặt của đồng tiền. Sẽ rất khó để chữa.
Cuộc cách mạng kinh tế tư nhân không triệt để do thiếu hụt nền tảng trí thức cũng yếu đuối về tâm lý và đạo đức xã hội đã làm suy yếu đi private sector khi mà nguồn lực chính của nhóm này đổ dồn vào các ngành nghề ăn xổi (bong bóng) kéo theo cả nhóm doanh nghiệp sử dụng ngân sách đi theo hướng này.

Là một nhà cách mạng thiên về hành động, những công lao của ông Kiệt trong kháng chiến và trong đổi mới là vô cùng lớn. Chỉ có người dám nghĩ dám làm mới có những thành công vang dội như thế.

Nhưng sai lầm, chủ yếu là gián tiếp, cũng khá nhiều. Chỉ có người dám làm mới có sai. Ai không sai gì thì chắc là người cả đời chỉ nói phét mà không làm.

IV. Nguyên nhân của Thành – Bại

Thành công của ông, về bản chất sâu xa là vắng bóng của số phận nhóm hai.

Thất bại của ông, về bản chất sâu xa là vắng bóng của số phận nhóm hai và hơi ít nhóm một.

Thành công của ông nhân dân cũng được hưởng. Thất bại của ông nhân dân cũng phải gánh chịu.

Hào kiệt khuất núi/Biển đãi dòng sông/Anh hùng bất luận.

Bonus: Hai lần xé rào huyền thọai

+ Trái lệnh (nghị quyết) của Bộ Chính Trị năm 1973. Cụ thể là không tuân thủ hiệp định Paris, dàn quân đánh trả quân của Nguyễn Văn Thiệu để giữ đất giữ dân. Lúc đó ông Kiệt là bí thư Khu Ủy IX còn ông Lê Đức Anh là đại tá tư lệnh quân khu. Sau sự kiện xé rào nghị quyết TW mà ông Tố Hữu vào tận miền nam để phổ biến, ông Kiệt ra Bắc họp để ‘giải trình’ và kết quả là ông được công nhận là làm đúng. Ông Lê Đức Anh sau đó được lên tướng. Cục diện chiến trường miền nam thay đổi, dẫn đến ngày 30.4.1975.

+ Phá giá mua bán gạo của Ủy Ban Vật Giá năm 1979 để cứu đói 3.5 triệu dân thành phố (cũng là phá cơ chế kinh tế tập trung bao cấp). Lúc đó ông Kiệt đang là Bí thư thành ủy đã chỉ đạo tài chính, ngân hàng, lương thực vượt qua việc ngăn sông cấm chợ, vượt qua các rào cản tài chính (cho tiêu tiền) và ngân hàng (cấp tiền) để mua gạo từ đồng bằng sông cửu long mang về thành phố. Sau sự kiện đột phá về thương mại tự do này, bà Ba Thi được phong anh hùng lần thứ hai.

Chuyên mục: đời
Thẻ:

0 phản hồi so far ↓

  • Chưa có bình luận nào... Điền vào form dưới đây và trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này.

Để lại phản hồi