Blog của 5xu

Ăn uống linh tinh

Tháng Hai 1, 2010 · 9 phản hồi

Thật kỳ lạ khi một đặc trưng của dịch vụ ở SG là giữ xe mất tiền (khách vào nhà hàng ăn, phải trả tiền gửi xe máy) nay đã chuyển qua miễn phí. Rất nhiều người Bắc trước đây đã ngạc nhiên khi sáng đi ăn phở mà mất 2 ngàn gửi xe.

Cho dù tiền gửi xe bây giờ có thể bị lẩn vào chi phí chung và giá bán sản phẩm, nhưng về mặt dịch vụ, khách hàng sẽ thấy mình đuợc phục vụ nhiều hơn. Có những tiệm quần áo hay giày dép lớn có hẳn một đội thanh niên chỉ làm một việc duy nhất là nhận xe từ các bà các cô, dắt đi gửi, và trả lại các cô khi họ đi ra từ cửa hàng.

Một phương tiện hiện đại nữa đã xuất hiện ở hầu hết các cửa hàng lớn, đó là cái walkie-talkie hay còn gọi là bộ đàm. Từ người giữ xe, chạy bàn, hay người dẫn khách đứng ở cửa, ai cũng cắm cái headphone ở tai, hoặc cầm bộ đàm ở tay. Có những tiệm bánh bì đông khách, có hẳn một cô đứng hẳn ra vỉa hè nhận order từ những khách dừng xe máy để mua bánh mì mang về. Việc của cô hỏi khách mua gì rồi dùng bộ đàm báo vào bên trong. Communication tốt và xuyên suốt sẽ giúp serve khách hàng tốt hơn.

Rất dễ phân biệt chủ nhà hàng là người vùng nào. Lần đầu đi qua khu đô thị Him Lam, chưa cần biết đây là đô thị gì, chỉ cần nhìn vào mật độ xây dựng kín mít, là biết của chủ đến từ miền Bắc.

Vào một trong những quán xịn nhất của Trung Nguyên, ở Nguyễn Văn Chiêm, tôi biết ngay là restroom của quán này sẽ xấu và tệ hơn chính cái quán rất nhiều. Quả nhiên đúng y bóc. Quán cafe hoặc nhà hàng nào có restroom sạch sẽ và lịch sự, đảm bảo nhà hàng ấy sẽ đông khách. Ở SG có những quán nhậu dành cho khách trung lưu, quán outdoor hoặc có mái, tức là không dùng máy lạnh, nhưng restroom thì bật máy lạnh cho thoáng mát.

Chăm sóc khách, kể cả những lúc họ riêng tư nhất, chính là cách giữ để khách quay lại.

Nhiều thương hiệu của SG nay vẫn có vẻ tốt và tiếp tục sống tốt. Có thể kể đến bánh mì beafsteak Nam Sơn. Lần nào ăn tôi cũng khá hài lòng (tất nhiên là hài lòng so với số tiền phải trả). Có nhà hàng gây thất vọng. Ví dụ như cái nhà hàng bán miến cua ở Lê Thánh Tôn, sau lưng chợ Bến Thành, tự nhiên quên béng tên, chất lượng thì vẫn tốt, nhưng số lượng giảm trắng trợn. Bát miến giờ loe nghoe có chút, hút phát hết luôn, có khi phải ăn 2 tô mới đủ.

Bánh đa cua buổi chiều có thể ăn ở một chỗ bình dân giá rẻ, mỗi tội hơi xa, hẻm 568 Bà Hạt. Rất nhiều các cháu gái trẻ ăn ở đây buổi chiều, nếu may mắn, bạn sẽ được chiêm ngưỡng khi đang ngồi ghế thấp trong hẻm và xì xụp bánh đa cua.

Góc An Dương Vương – Trần Phú (nằm ở Trần Phú, đi từ phía quận nhất lên thì quẹo trái) có hàng cơm gà, tự nhiên quên tên, có món trứng ba màu rất ngon. Không hiểu trứng ba màu làm bằng gì, và chiên thế nào mà nó dính sát luôn vào cái đĩa sứ. Lúc ăn hết cứ phải lấy thìa cạo ra ăn nốt, rất là xấu hổ.

Lại nói các cháu teen. Các cháu giờ có mốt đi ăn sữa chuatươi (yogurt tươi). Có nhiều tiệm như vậy. Nhưng hình như chỉ có một tiệm xịn là Franchise từ ngoại quốc. Tên của nó là Yogen Fruz (chữ u trong Fruz có 2 dấu chấm ở trên) nằm ở góc Nam Kỳ và NTMK. Chỗ này có 2 sản phẩm chính là Top-It và Blend-it, ngoài ra có Smoothies. Giá hơi đắt, cỡ bảy tám chục ngàn một ly, nhưng thi thoảng đi ăn cho trẻ ra cũng được.

Ngày xưa ở Hồ Huấn Nghiệp có kem Bố Già. Tôi rất hay ngồi đấy. Chỗ vỉa hẻ quán Bố Già ngồi khá dễ chịu, phía bên kia sau có mở vũ trường Mưa Rừng. Ngồi Bố Già cũng một phần là ở đấy có một cô bé rất xinh mặc dù hơi mập một chút, hình như là cháu của Bố Già. Kem Bố Già giờ không còn ở Hồ Huấn Nghiệp nữa thì phải. Nhưng mở “chi nhánh” ở mấy nơi, ít nhất là tôi đã thấy ở Nam Kỳ (trên đường ra sân bay), Điện Biên Phủ và Ngô Đức Kế. Bố Già Ngô Đức Kế thì tôi có qua ăn trưa thử một lần. Nói chung là ổn, cái chị chủ (hoặc quản lý) ở đấy chính là cái chị bán ở Bố Già Hồ Huấn Nghiệp, cho nên chắc chắn Bố Già này và Bố Già xưa là một.

Bố Già thực ra cũng chỉ là sau 75. Trước 75 hình như là có kem Thiên Lý. Không biết giờ còn không. Trước 75 còn có cơm Bà Cả Đọi, giờ ít người nhắc tới, một phần là do chính nó cũng đi xuống từ cách đây 10 năm. Bây giờ hình như cơm Bà Cả Đọi đổi thành Đồng Nhân, xuất hiện ở mấy nơi, trong đó hình như có một chỗ ở Lý Tự Trọng – Trương Định. Quán Bà Cả Đọi ngày xưa có chị tính tiền siêu cao thủ. Đặc điểm của quán này là mỗi loại đồ ăn được dọn ra bàn bằng một loại đĩa khác nhau (như sushi bar), lúc tính tiền chỉ cần đếm các loại đĩa. Chị chủ quán liếc mắt mấy giây là đọc ra số tiền, không bao giờ sai.

Cuối cùng, chính là cơm bình dân. Có hàng ngàn quán cơm bình dân ngon và rẻ trên khắp thành phố này, để phục vụ hàng triệu người lao động, từ công sở đến cần lao. Một trong những quán đó là tiệm cơm Saigon, nằm trên đường Nguyễn Đình Chiểu, gần ra ngã tư Hai Bà Trưng. Quán này làm được cả đồ tây. Và làm nui xào bò lúc lắc hoặc gà BBQ rất ngon.

→ 9 phản hồiChuyên mục: nhảm
Thẻ:

Thư phòng Hồ Điệp

Tháng Một 25, 2010 · 10 phản hồi

Thư phòng Hồ Điệp nằm lưng chừng một con dốc thấp, gần một nhà dòng lớn nơi nuôi các cụ già không có người chăm sóc.

***

Thủ Đức nằm trên một vùng đất gò đồi thấp, có sông, có miệt vườn. Lúc xưa Thủ Đức thuộc Trấn Biên (Biên Hòa) do vua Gia Long thành lập. Sau này người Pháp tách Thủ Đức về thành Gia Định. Gia Định sau này hợp vào Sài Gòn.

Thủ Đức giống hệt các thị trấn nhỏ, lại giống hệt các thành phố vệ tinh của đô thị lớn. Nó có cái chất nửa đô thị nửa tỉnh lẻ. Lại có cái purity của vùng đất rất hiếm người nhập cư lẻ tẻ. Nó có cái thuần chất của cộng đồng dân bản xứ nhiều năm không bị pha trộn, lại điểm pha cái thô kệch của sự chuyển mình do đô thị hóa.

Giống như người Thủ Đức vẫn trêu tôi: “Toàn người bắc di cư, chú xài đỡ”.

***

Thư phòng Hồ Điệp không có nhiều đồ đạc. Một cái giá sách nhỏ, phần nhiều là sách mới. Một cái đi văng nan gỗ nhỏ, có chỗ gối đầu uốn cong lên, để nằm đọc sách.

Sát cổng, trên vuông sân nhỏ, là giàn Lan Hồ Điệp, trổ bông trắng.

Giá sách có một cuốn sách cũ: Sử Ký Tư Mã Thiên, Nhượng Tống dịch, nhà sách Tân Việt, Hà Nội in năm 1944. Sách in bằng giấy mềm và mỏng, ngả màu nâu vàng, hơi giống giấy dó. Bìa phụ có chữ viết tay khá rắn rỏi: “Bản cuối cùng, giữ cẩn thận”. Bìa trong còn ghi thêm bằng mực xanh: “Bản giữ để tái bản”. Cuốn sách này có lẽ không bao giờ được tái bản đúng nghĩa bởi năm sau là Cách Mạng Tháng Tám.

Sử Ký Tư Mã Thiên bản in 1944, nếu hợp với bản Nam Hoa Kinh, cũng của Tân Việt in năm 1944, sẽ là cặp sách cổ vô giá.

***

Làng đại học Thủ Đức nay đã trở thành một thị trấn đại hoc đông vui. Có vô số quán cafe hiện đại kiểu các quán máy lạnh nhạc trẻ  Sài Gòn. Trước giải phóng, làng đại học Thủ Đức đã manh nha trở thành quần thể đại học lớn với nhiều trường đại học và trung học công lập. Do đây là đất công giáo lớn nên nhiều học viện của công giáo cũng đã từng hiện diện nơi đây. Dốc La Salle chạy qua nhà thờ Thủ Đức chắc cũng do dòng tu La Salle hồi trước mở trường hoặc tu viện ở khu vực này.

Hầu hết quán cafe ở đây không có gì đặc sắc, đại khái có decor hiện đại, nhiều cửa kính, nhiều kiểu bàn ghế, mở nhạc om xòm.

Trên đường Thống Nhất có một quán cafe hơi khác. Lặng lẽ và thư thái. Quán tên Trầm. Có lẽ cả khu vực này chỉ có quán Trầm sử dụng ánh sáng từ các bóng đèn dây tóc công suất nhỏ. Thực ra ngay cả ở SG cũng không có nhiều quán tạo được atmosphere như vậy. Tường treo nhiều ảnh, chắc do chủ quán chụp. Có cả một giá sách nhỏ trên tường. Kệ trên cùng có bày một con tàu thủy bằng sắt tây, một thứ đồ chơi thời bao cấp, đã chở hoài bão của bao nhiêu thiếu niến. Quán mở máy lạnh lạnh ngắt, nền trải đệm cói, và mở nhạc vocal với acoustics. Mỗi khi ban nhạc hoặc giọng hát chơi trầm và dày, tiếng loa gừ lên nghe hơi khó chịu. Chắc là do loa chứ không phải do power.

***

Thư phòng Hồ Điệp có một dàn nghe nhạc. Hai cái loa KEF Coda, một solid state amplifier hiệu Luxman 507 và một máy quay đĩa belt-drive hiệu Quanta 400. Cái amplifier này hình như là ClassAB nên nghe được nhạc cũ. Chắc vì thế nên thư quán chỉ có đĩa than loại này.

Buổi sáng có thể tự lấy  đĩa LP của Beatles, đĩa Abbey Road. Đĩa xước khá nhiều, nhưng nghe George Harrison hát Something ở Side A, hoặc Here Comes the Sun ở Side B, vẫn thấy ngọt ngào lắm.

Nếu cần đọc một cuốn sách chậm và suy nghĩ, có thể chọn Tracy Chapman. Hay nghe Eagles hát Hotel California, version đầu tiên, toàn tiếng guitar điện.

***

Nhà thờ xứ Châu Bình làm lễ sớm. Hơn 4:30 sáng còn mờ sương đã thấy giáo dân lặng lẽ đi bộ theo những con dốc ngắn đến nhà thờ. Nhà thờ hơi xấu, cha xứ giảng đạo không hay, người chơi piano đệm đàn đơn giản và ca đoàn hát rất hay. Văn Cao và Lưu Hữu Phước sáng tác Làng Tôi và Hồn Tử Sỹ có lẽ từ cảm hứng của những ca đoàn hát lễ sớm như vậy.

***

Loa của quán Analog nghe tiếng trung rất hay. Có lẽ không phải do loa mà do chủ quán dùng một bộ pre-amplifier vốn dùng cho valve sound. Bộ này kích điện thế đầu vào trước khi đẩy qua cục power. Đồ valve khuếch đại hài bậc chẵn của sóng âm (second và fourth hacmonics) khiến âm thanh đầy và vang. Nhiều người có tiền và chơi đồ audiophile nhiều khi không hiểu nhiều về âm học nên hay đánh giá thấp bộ pre-amplifier. Không có cái cục này thì đầu đĩa, loa và âm li khó mà hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Quán Analog nằm ngoài khu đại học, nó là một quán cafe nhỏ bán hàng tràn cả ra vỉa hè. Chủ quán Analog tên Thành. Trong quán có treo một bức ảnh màu nhóm Beatles rất to ngay chính giữa. Bên tường gần cửa ra vào có ảnh Miles Davis nhỏ hơn. Dàn âm thanh toàn đồ cổ. Chủ quán cũng hay mở nhạc xưa, toàn ca sỹ tên lạ hoắc như Kiều Nga (em Elvis Phương) hay nhạc sỹ lạ hoắc Song Ngọc. Khách bàn bên cạnh thấy ngơ ngác quay qua nói “các bạn trẻ như bạn không biết mấy ca sỹ này đâu”. Tự nhiên nghĩ: “Tôi ở đây từ cái ngày chắc anh còn học cấp 2, có điều tôi ít nghe nhạc nội mà thôi”.

***

Thư phòng nhỏ, nhiều cửa sổ, ít tường, lại hiếm khi đóng cửa. Nắng chiều có lúc qua cửa chính len vào đến giữa phòng. Thi thoảng có tiếng máy bay ì ầm, nhìn qua cửa thấy rõ từng chiếc máy bay khổng lồ chuẩn bị hạ cánh bay ngang qua bầu trời .

Sáng sớm và chiều muộn vang vẳng từ xung quanh theo gió là tiếng mõ chùa và chuông nhà thờ ngân nga.

Trong cái không khí thưa thớt tiếng ồn ấy lan Hồ Điệp thong thả trổ những bông hoa trắng.
***

→ 10 phản hồiChuyên mục: sống
Thẻ:

Erin Brockovich

Tháng Một 22, 2010 · 9 phản hồi

Trong cuốn Tư Duy Kinh Tế của Đặng Phong có nói một thời kỳ dài của chúng ta không có Đại học Luật, không có Bộ Tư Pháp.

Tôi lâu lắm không đọc TTVH, hôm trước mua một tờ CN, có nói về sưu tập tranh. Việt Nam có hội họa tính đến nay chưa đuợc 100 năm vậy mà có đến hàng chục nhà sưu tập. Từ hàng khủng như mấy anh được bố truyền nghề lại đến các doanh nhân giàu có bắt đầu mua tranh từ khoảng chục năm nay. Dựa vào bài báo, ước tính, có lẽ phải có đến hơn 1000 bức tranh được coi là đẹp, của danh họa, đang có mặt trong các bộ sưu tập. Đấy là chiến tranh loạn lạc làm mất bớt đi rồi. Chưa kể tranh trong bảo tàng nhà nước.

Thế mới biết dân mình tài thật, khó như hội hoạ mà chưa đến 100 năm đẻ ra cả ngàn tác phẩm lớn. Dễ hơn một chút là thơ, kể từ thời kỳ thơ mới đến giờ, chắc phải có đến 40 triệu người đã làm thơ, trong đó đa phần ở các tổ hưu, danh tác thì chắc là không đếm xuể nên tới nay chưa có nhà sưu tầm thơ nào tên tuổi. Tội phá rừng phần nhiều là do các thi sĩ Vina. May mà giờ có blog để các thi sĩ khoe thơ, chứ không chắc phải chặt hết rừng làm giấy.

Vậy ra dân mình thật là giàu tâm hồn và thẩm mỹ. Nghệ thuật thật công bằng, không bỏ sót một ai.

Còn những thứ khác thì sao?

Hôm trước có gặp một anh bạn Tàu. Anh này trẻ và văn minh, học đại học và thạc sỹ ở Anh, sau đó làm ở Anh 2 năm rồi về làm cho một công ty Trung Quốc. Đi ăn nói chuyện, lúc đầu thì bóng đá sau qua Thiên An Môn. Anh này nói thực ra ở TQ bọn tôi nói chuyện cũng thoải mái rồi, không còn cấm kỵ kiểu Thiên An Môn với Triệu Tử Dương nữa. Tuy nhiên, mặc dù công nhận Thiên An Môn là một big chance mà Trung Quốc đã để hụt, anh này vẫn cho rằng TQ chưa nên dân chủ vì nếu không độc đoán là loạn ngay. Cái này thì nhiều người VN trẻ và học ở tây về cũng nghĩ thế.

Thực ra, cái quan trọng mà những nước lạc hậu cần phải có trước tiên là cái sự công bằng. Cụ thể là công bằng về tiếp cận các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, cơ hội việc làm, cơ quan pháp lý.

Thử nghĩ mà xem, trẻ con đi học mà bố mẹ xin lòi mắt ra mới được vào trường, thì đến bao giờ mới hiểu được chữ công bằng.

Luật sư của mình chắc hiếm nên chủ yếu đi làm cho tây, cho doanh nghiệp, lo giấy tờ đất, giấy tờ nhà…  Nói chung nghề này hiếm hoi nên luật sư vừa sướng vật chất vừa oách cái tinh thần. Ăn mặc đẹp, ngồi máy lạnh, viết lách văn bản cứ như đúng rồi, nói tiếng Tây thõi lắm. Ngồi sa lông kiếm tiền dễ quá nên chính trị cũng sa lông mà cách mạng cũng bàn giấy.

Giá như có những luật sư, chỉ cần bắt chước phim Mỹ thôi, xuống cộng đồng làm dịch vụ pháp lý giúp dân nghèo. Giúp họ từ viết cái đơn, đến ra tòa tranh biện bảo vệ họ khỏi các chủ doanh nghiệp tham lam, khỏi các dự án bừa bãi, khỏi các nỗi oan sai. Thì dần dần người dân nghèo (đông lắm) họ hiểu thế nào là công bằng, hiểu là ai sinh ra cũng có quyền bình đẳng, hiểu là luật pháp không bỏ quên mình. Nhà nước pháp quyền cần những công dân như thế, chứ công dân không cần pháp quyền mà họ không thể tiếp cận nổi. Nếu các luật sư dám chịu khổ, bỏ văn phòng máy lạnh xuống sống với dân nghèo năm năm, mười năm, giúp họ có được cái lẽ công bằng, thì dân sẽ nuôi họ, bảo vệ họ lúc khó khăn. Cho dù cái cuộc sống ấy hiển nhiên là gian khổ và thiếu thốn, nhưng có ích cho cộng đồng, xã hội, đất nước. Xét cho cùng, sướng và có ích hơn ở trong tù nhiều lắm.

→ 9 phản hồiChuyên mục: đời
Thẻ:

Đáp Ca

Tháng Một 19, 2010 · 14 phản hồi

Nghe nói gần Dinh Bảo Đại có quán cafe Cung Tơ lạ lắm. Lạ ở chỗ nếu đến đó vào buổi tối, gặp hôm bà chủ “in the mood” sẽ hát rất hay. Thế nên gần bảy rưỡi tối đã lọ mọ dắt xe máy chạy lên Lê Hồng Phong.

Cái thành phố cao nguyên này hơi nhỏ mà dân tình chạy xe rất nhanh, đi đường mà lớ ngớ ngó nghiêng rất hãi vì xe cộ xẹt qua xẹt lại bất ngờ. Ban ngày trời xanh ngắt như nhìn qua mắt kính phân cực cyan. Bầu trời rất gần mặt đất. Giữa khoảng không mênh mông và ngăn ngắt xanh ấy là gió. Gió rất lộng và khá lạnh. Nhất là khi phải chạy xe tìm đường khi trời đã tối.

Con đường Lê Hồng Phong khá ngắn và dốc. Chạy lên chạy xuống mấy lần không thể tìm ra Cung Tơ. Gọi 1080 hỏi, người ta hỏi lại: “Cung Tơ Chiều phải không, 25K Lê Hồng Phong nhé.”

Thế rồi vẫn không thể tìm ra vì số nhà đến hơn 20 là chấm dứt. Nản quá tính về thì nhìn thấy các chú công an gác cơ quan cảnh sát tư pháp, liền ghé vào hỏi. Ba chú công an thấy hỏi 25K liền chồm hẳn ra khỏi trạm gác: “25K hả, vào nhà ai trong đó, đi thêm đoạn nữa đi. À, đến Cung Tơ Chiều à, thế thì rẽ đường này đi lên Dinh Bảo Đại, đến gần dinh bên tay phải có con dốc, đi lên dốc là tới quán.” Nói xong lại cười rất ngụ ý: “Chỗ nào mà tối nhất là đúng nó đó”

Chạy hết dốc tới tận cửa Dinh, cả con đường tối om, cửa Dinh cũng tối, mà không thấy lối rẽ nào lên dốc.

Chạy lại một lần nữa thì thấy một con dốc nhỏ xíu, đường đất, hẹp ngang và dốc ngược. Ngước nhìn lên quả thật tối om, phía đỉnh dốc có biển hiệu nhỏ cũ kỹ, sáng mờ mờ màu vàng nhạt. Nhìn kỹ một lúc hơi hơi thấy chữ Cung mờ sau hình vẽ một cây đàn harp. Đành liều phi xe lên. Quả nhiên đúng là Cung Tơ Chiều.

Trên đỉnh đồi là một khu nhà vườn tối tăm và um tùm cây cối. Trong sân có mấy cái xe máy im lìm. Đang ngần ngừ thì cửa mở, có người bước ra gọi điện thoại thì thào. Mới định thần nhìn lại, có vẻ như đó là cánh cửa vào quán. Ở ngoài cửa có một tấm bảng sáng mờ mờ, trên đó có dòng chữ: Không gọi điện thoại. Nói chuyện nhỏ hơn tiếng nhạc.

Yên tâm mở cửa bước vào. Quán rộng chừng 25 thước vuông, xung quanh thắp vài ngọn nến. Có vẻ như quán vốn là một căn nhà gỗ thấp giữa vườn hoa, xung quanh toàn là cửa sổ kính, khung gỗ cao sát trần. Trần nhà khá thấp và bằng gỗ. Quán đang mở Tuấn Ngọc, mở rất bé, lắng nghe kỹ mới thấy có vài nhóm khách đang thì thào nói chuyện.

Phục vụ là một cô gái nhỏ nhắn, mặc áo dạ, tóc xõa qua vai, đi từng bước một, dáng thẳng và lững lờ như trôi lập lờ trong cái bóng đêm pha ánh nến. Tất cả đồ uống đều đổ đồng, 60 ngàn/ người/ ly nước.

“Ở quán này được hút thuốc không em?” thì thầm hỏi cô gái tóc xõa đen. Cô im lặng một lúc, tóc vẫn xõa, cảm tưởng như cô mới chui ra từ cái màn hình TV của The Ring mà chưa kịp học tiếng Việt. Rồi cô nhả từng tiếng thật chậm và khẽ: “Dạ chú hỏi có hút thuốc được phải không. Dạ được, chú cứ hút”. Rồi biến mất.

Ngồi một lúc quen ánh sáng, thấy mọi vật rõ hơn. Đám khách ngồi bàn giữa phòng khá đông, gần chục người, nói chuyên khe khẽ, uống nước khe khẽ, nhìn nhau cũng khe khẽ. Một người phụ nữ đứng tuổi lừ lừ đi ra , tóc cũng xõa, áo đen, quần tối màu, miệng ngậm thuốc lá. Chị đi ra cửa quán, đứng một lát, rít vài hơi thuốc, quay lại gườm gườm nhìn các bàn có khách  rồi đi vào sau quán, biến mất như đốm lửa thuốc lá tắt sau bóng đêm. Không khí hơi quánh lại, có vẻ mọi người không dám thở. Rón rén bò đến cái bàn giữa nhà, hé miệng khẽ hỏi: “Anh chị cho em hỏi, có phải vừa rồi là chủ quán không?” “Đúng rồi em” một chị đứng tuổi thì thầm trả lời. “Mình nói to thì bà ấy có đánh mình không chị?” “Thôi, khe khẽ thôi, bà ấy không hát nữa bây giờ” chị đứng tuổi giọng hơi căng thẳng mặc dù vẫn thì thầm.

Reiko bước ra lần nữa. Tạm gọi cô chủ là Reiko, nhưng già hơn và xạm hơn trong truyện. Reiko trôi lững lờ một vòng quanh quán, mắt gườm gườm, miệng thả khói thuốc, rồi hỏi: “Anh chị có ai biết chơi đàn, tôi cho mượn đàn chơi?”. Khách có vẻ nín hết thở, không ai dám thở mạnh vì sợ hiểu nhầm là đồng ý. Reiko lại biến vào sau quán. Có tiếng phựt nhẹ, TuấnNgọc đang hát khe khẽ trên tường bỗng mất điện. Reiko lại hiện ra, ngồi lên cái sân khấu nhỏ, ôm đàn guitar và nói, lần này to và rõ: “Đang dở Chiều Một Mình Qua Phố”. Rồi hát:

“Chiều qua bao nhiêu lần môi cười
Cho mình còn nhớ nhau
chiều qua bao nhiêu lần tay mời
Nghe buồn ghé môi sầu.
Ngày nào mình còn có nhau xin cho dài lâu
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau.”

Đó là giọng hát cũ kỹ của một người bắc 54 đã bạc bớt màu xanh của thời gian và xạm màu khói thuốc. Hơi giống Khánh Ly mà hồn Giang Trang. Như một lá phổi lớn thổi khói thuốc qua thanh quản cằn khô vì rượu để phát ra tiếng hát. Hết Trịnh Công Sơn rồi đến Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Hết Gọi Nắng rồi qua Phôi Pha. Rồi chị hát:

“Mây bay về đây Cưới trời
Mưa rơi làm rụng lá vàng
Duyên ta từ đây lỡ làng
Còn đâu những chiều
Dệt cung đàn yêu”

“Cưới trời”, Reiko hát như vậy, nhấn mạnh và vút cao, bằng tiếng Bắc Kỳ cũ kỹ và khàn khói thuốc.

Những chiều dệt cung đàn yêu. Trên cái đình đồi cô độc và um tùm hoa trái này, bao nhiều lần gió lộng cao nguyên đem mây về đây làm đám cưới với bầu trời xanh như ánh sáng phân cực cyan.

***

Ca đoàn của Nhà Thờ Chánh Tòa hát không hay lắm nhưng người chơi đàn thì rất hay. Mặc dù không đẹp bằng khu trường cũ Grand Lycée de Dalat nhưng Nhà thờ Chánh Tòa vẫn là một kiến trúc ấn tượng. Khu vực dành cho ca đoàn bên trong nhà thờ được xây thành vòm cung rộng, các hàng ghế sắp cao dần như trong giảng đường đại học. Mỗi sáng chủ nhật, lúc 9 giờ, là lễ trọng dành cho thiếu nhi. Ca đoàn và người đọc thánh thư đều là các em bé.

Linh mục nhà thờ chánh tòa nói tiếng Nam. Thực ra nếu may mắn, đi các nhà thờ ở ven Sài Gòn vào ngày Chúa Nhật, rất có thể bạn sẽ được nghe giảng hoặc đọc thánh thư bằng thứ tiếng Hà Nội cổ điển. Giống như giọng cổ điển của cô Vân thuyết minh phim Rạp Tháng Tám nhưng được pha với cách phát âm của người học trường Tây. Và quan trọng hơn, Thánh Thư và Đáp Ca được viết bằng một thứ tiếng Việt giản dị nhưng rất giàu hình ảnh, một dạng ngôn ngữ progressive đầy ấn tượng khi cất lên vang vọng duới mái vòm của nhà thờ.

Sáng chủ nhật cao nguyên, trời xanh và gió lạnh, nắng vàng chiếu qua các cửa sổ tranh kính, ca đoàn nhà thờ chánh tòa ngân nga lúc Hiệp Lễ. Lời Hiệp Ca có đoạn:

“Chúa ơi
Thân con là thân lúa miến
gieo vào lòng đời
và mục nát với thời gian”

***

→ 14 phản hồiChuyên mục: đời
Thẻ:

Phía sau nghi can X

Tháng Một 13, 2010 · 7 phản hồi

“Ta ban sự bình an của ta cho các con” nhưng “ta sẽ gọi tên con trong công lý”. Chúa sẽ ở đâu trong cuộc sống tiềm ẩn hàng ngàn sự bất ổn mỗi ngày. Tự nhiên nghĩ đến hai câu trong Thánh Kinh này sau khi đọc tiểu thuyết “Phía sau nghi can X”.

Cuốn tiểu thuyết trinh thám Nhật Bản hiện đại này không quá dày, chỉ gần 400 trang, có lẽ đọc 1 tối là hết. Thế nhưng nếu bạn định đọc cuốn sách này thì nên dùng hai buổi tối. Nếu bạn đã lâu không còn đọc sách trinh thám, bạn nên re-start bằng việc đọc cuốn sách này. Nếu bạn coi thường dòng trinh thám, cuốn sách này có thể khiến bạn thay đổi định kiến.

***

Một nhà toán học tài năng nhưng phải đi dạy toán phổ thông để kiếm sống. Một nhà vật lý tài năng làm việc trong lab và đôi khi giúp sở cảnh sát phá án. Một thám tử chăm chỉ và tâm huyết. Cả ba người bằng tuổi nhau và cùng tốt nghiệp từ một trường đại học.

Cho đến một ngày cả ba cùng mắc vào một vụ trọng án.

Phá án cũng giống như giải một bài toán khó. Để giải được, cần tiếp cận đề bài đúng với cách người ra đề tiếp cận đáp án.

Đằng sau câu chuyện vụ án là những số phận con người trong xã hội hiện đại. Có khát khao thầm lặng của thiên tài toán học trong quãng đường gian nan tìm lời giải cho bài toán lớn. Có sự mất mát và cái vòng lẩn quẩn của những phụ nữ trẻ kiếm tìm hạnh phúc. Có mong muốn từ bỏ cuộc đời vì người sống không còn muốn sống. Có cứu vớt tâm hồn bằng tình yêu từ cái nhìn đầu tiên.

Người đọc có lẽ sẽ xúc động lặng người đi khi đoạn kết không phải là việc tìm ra kẻ thủ ác, mà đã vẽ nên cái sức mạnh của một tình yêu, dù câm lặng, cũng có thể khiến người ta hy sinh mạng sống của chính mình.

Có cái gì đó giống như sự đánh đổi  bất thành giữa bình an và tội lỗi, giữa sự tình yêu và công lý, hạnh phúc và hy sinh. Con người trong xã hội hiện đại có vẻ như ngày càng cô độc trong hành trình kiếm tìm hạnh phúc mà cái ác lại luôn lẩn quất xung quanh. Motive đặc sản này của văn học Nhật, nay lại hiện ra dưới một màu sắc khác của tiểu thuyết trinh thám.

“Ta ban sự bình an của ta cho các con” nhưng “ta sẽ gọi tên con trong công lý”. Chúa sẽ ở đâu trong cuộc sống tiềm ẩn hàng ngàn sự bất ổn mỗi ngày.

Tác giả của cuốn sách, Higashino Keigo, là kỹ sư điện, viết văn cho vui và trở thành cây bút trinh thám hàng đầu của Nhật Bản. Cuốn “Phía sau nghi can X” thuộc hàng best-seller ở Nhật và phiên bản điện ảnh của nó cũng rất thành công.

Sách do Nhã Nam và Văn Hóa Sài Gòn xuất bản. Dịch giả Trương Thùy Lan.
Giá bán mấy chục ngàn gì đó.

(Hai năm gần đây, chỉ đọc truyện trinh thám là thấy niềm vui, mọi người cũng nên noi gương tôi mà mua sách trinh thám về đọc.)

→ 7 phản hồiChuyên mục: sách
Thẻ:

Kiều Nữ và Đại Gia

Tháng Một 11, 2010 · 5 phản hồi

Tặng Phan An

Nàng tên là Kiều. Tất nhiên nàng thì có nghĩa là con gái, hay còn gọi là nữ. Vậy nên nàng là Kiều Nữ. Người giống như tên, nên Kiều Nữ rất đẹp. Cũng giống như Thị Nở thì phải xấu. Đây là điều may mắn cho văn chương bởi kiều nữ mà xấu còn thị nở lại xinh thì Bá Kiến phải đánh nhau với Đại Gia từ cổng nhà ra đến lò gạch. Đại gia không sinh ra ở lò gạch. Đại gia là chủ lò gạch. Rất nhiều lò gạch.

Đại gia tức là nhà to. Nhà đại gia rất to. Nói cho đúng, nhà và lò gạch là của bố đại gia. Bố đại gia cho đại gia tiền làm ăn từ lúc dậy thì, cụ thể là để mua chung cư đầu cơ. Từ thiếu gia, có nhiều nhà chung cư, trở thành đại gia.

Kiều nữ ngủ dậy lúc gần chính ngọ. Không phải là thiếu nữ ngủ ngày. Thiếu nữ ngủ ngày là do bà nhà thơ chuyên dậy sớm vì già khó ngủ, đổ oan cho kiều nữ. Bà nhà thơ, nói để rõ, ngoài là đàn bà, còn chả có gì giống kiều nữ. Kể cả là nương long vốn để trưng yếm đào. Từ bà nhà thơ đến kiều nữ là một khoảng cách xa. Xa như khoảng cách từ quê hương nhà thơ Lép Mông Tốp đến quê hương của Thủy Ve Ry Tốp.

Gần chính ngọ cũng là lúc kiều nữ kéo yếm đào lên quá nửa nương long rồi bước ra đường. Đêm qua nàng đi vũ trường nên giờ hơi đói. Vũ trường ồn ào, nhiều rượu, nhiều khói và nhạc to. Nhưng đại gia bảo tiền của đại gia cất tiếng thì mọi thứ âm nhạc đều tắt lịm. Đi với đại gia vào vũ trường, kiều nữ thấy yên tĩnh như thiền viện. Chỉ có cái đầu lắc lư.

Đại gia vốn nhà to, gần lò gạch. Lò gạch ở xa. Xa trung tâm, xa trường học, xa tất. Đại gia đi xe hai cửa đến cao ốc nhà nàng. Trên đó có chung cư của đại gia, nhưng nàng ở. Mỗi tuần một hoặc vài tối đại gia đến chơi qua đêm. Đêm đêm ngửi mùi hương, mùi hương sữa của nàng. Đại gia hát thế. Kiều nữ biết là đại gia khen nàng trẻ, vẫn còn búng ra sữa.

Đại gia cất xe hai cửa rồi lấy xe tay ga chở kiều nữ đi ăn. Lúc này cũng đã gần chính ngọ. Kiều nữ ngồi thẳng lưng phía sau, áo yếm hàng hiệu hơi trễ. Đến ngã tư đèn đỏ, bất giác kiều nữ giơ cao cánh tay, nghẹo đầu, ngắm cái nách của mình. Động tác rất đẹp, như thiên nga lấy mỏ rỉa cánh. Chỉ có kiều nữ mới nên làm động tác này. Nếu không phải kiều nữ, sẽ ra con vịt xiêm rỉa cánh.

Kiều nữ không rỉa cánh, nàng ngắm nách của mình. Nàng biết có nhiều cách để co kéo tuổi xuân cho phụ nữ. Bằng mỹ phẩm, bằng dao kéo, cho mặt, cho mắt, cho cả nương long. Bằng yoga, bằng aerobic, cho tâm hồn, cho thể xác. Nhưng không có cách nào có thể co kéo tuổi xuân cho nách. Nách luôn già đúng tuổi.

Kiều nữ rỉa cánh ở ngã tư đèn đỏ. Đúng ra là không văn minh lắm. Nhất là vào lúc chính ngọ, mọi người đang đói vì chưa ăn trưa. Thay vì họ nhìn nàng và hỏi: kiều nữ ăn trưa chưa, sao giờ này chưa ăn trưa, thì họ không hỏi gì và có lẽ sẽ tha thứ cho nàng vì tội rỉa cánh trước đèn đỏ. Hãy tha thứ cho nàng vì nàng đẹp, sách đã nói thế.

Đại gia thì không biết sách nói gì. Đại gia cũng không muốn tha thứ. Kiều nữ bắt đầu đối xử phũ phàng với đại gia. Nàng đòi đóng gạch phải trả bằng gạch. Gạch đại gia không thiếu, lò gạch nhà đại gia có mà đầy. Nhưng nàng bắt đầu có ý đòi cưới. Tỏ ý từ lúc bắt đại gia mua nhẫn đính hôn hạt xoàn. Hạt xoàn mà kiều nữ nghĩ như hạt xoài. Tức là phải to và nhiều.

Từ ngày tỏ ý muốn đám cưới, kiều nữ bắt đầu chăm rỉa nách. Đại gia dừng xe ga  ở đèn đỏ ngã tư, liếc qua gương hậu nhìn kiều nữ rỉa nách. Bất giác cười không thành tiếng. Đi với đại gia, mọi âm thanh như ngừng lại. Tất cả đều ngừng lại. Chỉ có khói lò gạch tiếp tục bay và nách thiếu nữ tiếp tục già đi. Già đi ngay cả khi đang dừng xe đèn đỏ.

Chiều nay là lần đầu tiên trong đời đi chợ. Mua cà chua và cải bắp. Tự nhiên nhớ tới Phan An hay rủ qua nhà ăn cơm: “nhà anh có đủ đồ ăn, có rượu”. Lại nghe nói các bạn phàn nàn blog dạo này ít cái buồn cười, bèn nhái giọng Phan An viết cái entry trên, để tặng các bạn. Chúc các bạn một tuần vui vẻ.

→ 5 phản hồiChuyên mục: nhảm
Thẻ:

Ký ức đô thị

Tháng Một 9, 2010 · 20 phản hồi

Khi người Mỹ quay trở lại Việt Nam họ đã phá bỏ Đại sứ quán cũ của mình trên đường Lê Duẩn, cái sứ quán nổi tiếng với chiến công của biệt động thành 1968 và chiến dịch không vận rút chạy khỏi Sài Gòn năm 1975. Trên nền đất cũ của Đại sứ quán Mỹ lừng danh khi xưa, họ xây Lãnh sự quán mới.

Khi làm Đại lộ Đông tây, chính quyền thành phố đã giải tỏa và phá gần hết bến Bình Đông, cái bến nổi tiếng bên kênh Tàu Hũ, điểm đến cuối của trục giao thông đường thủy từ miền tây lên Chợ Lớn.

Khi Vincom lấy vườn hoa Chi Lăng, họ đã chặt đi những cây xanh cổ thụ đã sống có lẽ hàng trăm năm, ngay trung tâm, để chứng kiến bao sự kiện lịch sử của Sài Gòn.

Có hàng trăm ngàn thay đổi như vậy đã và đang diễn ra trên khắp cơ thể của thành phố này.

Mỗi công trình mới xây, mỗi công dân mới sinh ra, đều là sự một sự bổ sung bản sắc thêm vào substance của thành phố. Substance, như Spinoza định nghĩa, là một cái gì đó ở bên dưới vật chất để rồi dựng nên hình hài và bản sắc của vũ trụ.

Mọi sự thay đổi lớn, như tòa đại sứ, bến Bình Đông, đều xóa đi một hoặc nhiều ký ức của đô thị lớn đã từng có tên là Sài Gòn.

Không dễ gì xóa đi ký ức của một con người, cho dù có tự nguyện và cố gắng đến mấy. Một ký ức mất đi là một lần tiềm thức thay đổi. Tiềm thức thay đổi sẽ khiến con người ta đổi thay nhận thức của chính mình. Khi nhận thức thay đổi, thế giới quan cũng đổi thay. Và thế giới hiện thực như con người ta nhìn thấy sẽ khác đi. Khác tinh thần, khác tính cách. Một bản thể hoàn toàn khác.

Một người có ký ức hoàn toàn mới, sẽ là một con người mới.

Một thành phố bị mất ký ức, sẽ trở thành một thành phố khác.

Giống như người dân Hà Nội khi xưa đã tự mình, dù là hồn nhiên trong cơn say cách mạng, đập bỏ đi những substance của thành phố chỉ vì cho rằng nó thuộc Pháp. Kể từ khi Bà Đầm Xòe sụp đổ ở Cửa Nam, những ký ức bình đẳng bác ái cũng mất đi. Để rồi hôm nay người Hà Nội sẵn sàng chửi nhau chỉ vì vô tình chạm xe ở đèn đỏ ngã tư, hay tranh cướp hoa ở hội chợ. Một Hà Nội xô bồ và vô liêm, chèn ép nhau không chỉ vì chức quyền, đất đai mà có khi chỉ vì hơn nhau một tiếng gáy. Một Hà Nội vơ vét không phải vì đói khát. Một Hà Nội chiếm đoạt tương lai ngay từ quá khứ của chính mình.

Khi những người Việt từ phương bắc chạy về hướng nam trong cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn, vua Khmer đã mở vòng tay cho họ cư trú ở làng chài Prey Nokor để rồi chỉ vài chục năm sau vùng đất cửa sông xoay ra biển này được Việt hóa và manh nha trở thành đô thị mới của triều Nguyễn.

Kể từ đó, tinh thần bao bọc người ngụ cư, cho họ đất ở, cho họ cơ hội lập nghiệp, bù đắp gian nan, đã trở thành tinh thần cốt lõi và bất diệt của miền đất Viễn Đông này.

Tinh thần ấy đã giúp Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh xây dựng đô thị lớn của Nhà Nguyễn  ở Phương Nam và sau đó đã chính thức biến cả vùng đất rộng lớn thành một phần lãnh thổ phía nam không thể tách rời của nước Việt.

Sài Gòn là thành phố đầu tiên chính phủ Pháp xây dựng ở hải ngoại. Từ đây Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ và dần dần chiếm toàn bộ Việt Nam.

Sài-Gòn cũng là nơi mà những người kháng chiến chống Pháp bắt đầu cuộc chiến của mình. Là nơi lá cờ đỏ sao vàng sinh ra.

Một thành phố phương tây xây trên vùng đất thuộc địa Viễn Đông. Nó có tất cả sự xa hoa và sa đọa của quân đội viễn chinh, của những tay buôn theo chân họ kiếm chác, và của cả đám quý tộc châu âu đi phượt. Nó có tất cả những gì văn minh và cấp tiến mà những người Pháp thực sự muốn khai hóa văn minh.

Ở bên dưới tất cả những thứ đó, vẫn là những ký ức cũ không có ai phá bỏ được, của một thành phố cửa biển, do những người Việt cầm gươm đi mở cõi mà nên. Ký ức đó tiếp tục gìn giữ tinh thần bao dung và công bằng, cho tất cả những người lao động, cho những người kháng chiến, cho cả những người Hoa Chợ Lớn và cho cả những tá điền miền tây hay những cô cave bán tuổi xanh dưới ánh đèn màu.

Hòn Ngọc Viễn Đông không phải là cái tên thực dân Pháp đặt cho thành phố pháp ở Viễn Đông xa xôi này. Rất có thể đó là cái tên mà tất cả mọi người đều đã từng gọi. Từ lính viễn chinh Pháp đến các ông hoàng Châu Âu. Từ những người lao động ở Xóm Củi, đến thương lái Hoa Kiều. Từ lính mã tà đánh thuê đến ngôi sao điện ảnh Chaplin. Từ những trí thức Việt kiệt suất ở hải ngoại như Phan Sào Nam đến nhà văn Anh đặc sắc Graham Green.

Sài-gòn đãi tất cả, sang hay hèn, con buôn hay chiến binh, công bằng và dung dị như nhau. Miễn là họ có những tháng năm gian nan ngược xuôi trên mảnh đất này. Đấy là một tinh thần Ngọc mà không phải mảnh đất nào ở Viễn Đông cũng có.

Mấy hôm nay bí rì, ko viết ra được. Hôm nay nhân tiện bạn Goldmund rủ đi ăn. Đi bộ từ Nguyễn Thiện Thuật lên chỗ Goldmund ngồi đợi ở Đồng Khởi. Lúc đi nghĩ được 1 đoạn. Đến Bến Thành mệt quá đi xe ôm nốt. Lúc về đi bộ từ Ngô Đức Kế về lại Nguyễn Thiện Thuật. Hết 55 phút. Nghĩ nốt bài viết. Ghé vào quán cafe, uống 1 lon bia, rồi về nhà xả 1 phát ra luôn cái entry này. Hehehe, cám ơn chú Mun và các bạn của chú.

→ 20 phản hồiChuyên mục: sống
Thẻ:

Mì vịt tiềm

Tháng Một 8, 2010 · 9 phản hồi

Có món này ở xứ bắc không có: vịt tiềm giòn.Vịt tiềm nhưng con vịt lại chiên và để ở ngoài tô mì. Mỗi tô mặc định có 2 vắt (nắm) mì. Nếu muốn ăn nhiều hơn phải gọi: cho tô 3 vắt.

Ngay cả ở SG, không phải tiệm mì nào cũng có vịt tiềm giòn. Và tất nhiên ở những tiệm có vịt tiềm giòn, không phải tiệm nào làm món này cũng ngon.Tiệm ngon nhất có lẽ là Thiêm-Huy Mì Gia, ở quãng 455 Nguyễn Trãi, Quận 5. Tô 2 vắt giá 50 ngàn. Thêm 1 vắt thì thêm 5 ngàn nữa. Mì của tiệm này cũng rất ngon. Cả khúc Nguyễn Trãi này chỉ có hai ‘mì gia’. Cái kia hình như chính là Hưng-Ký.

***

Khúc Nguyễn Trãi quận 5 hình như là phố quần áo dành cho teen. Đợt Xmas khúc này đông nghẹt các cháu đi mua sắm quần áo. Các cháu teen ở SG cũng tụ vạ ngồi bệt ở khu trung tâm, chỗ vườn hoa trước Hàn Thuyên và vỉa hè trước trường tiểu học Hòa Bình. So với khu nước chè Nhà Thờ và Nhà Hát Lớn ở HN thì đại khái ngồi bệt ở đây cũng có cái giống, có cái khác. Các cháu khác thích ngồi xe máy kiểu rước đèn hoặc dựng xe ngồi nói chuyện thì hay đi khúc Nguyễn Trãi và vỉa hè chỗ New World. Đại khái giống như đuờng Thanh Niên ngoài kia vậy.

***

Đường Nguyễn Trãi quận 1 sắp trở thành con đường chết. Giống như Lý Tự Trọng đã chết. Các shop quần áo ở Lý Tự Trọng sầm uất cách đây 10 năm nay đã rụng gần hết, nhường chỗ cho các khách sạn mini mà nghe nói chủ toàn là người Hải Phòng. Nguyễn Trãi chưa chết vì còn một số shop hàng hiệu vẫn còn bán tốt. Kiểu như Charles and Keith. Khách vào shop này có nhiều em rất đẹp/

Ở Nguyễn Trãi có vài chỗ bán sinh tố vỉa hè. Ngon và rẻ. Khách cũng ngon. Họ bán sau 8pm, khi các shop quần áo đóng cửa. Bàn ghế nhựa bày luôn ra vỉa hè, trước các shop quần áo. Chỗ đông khách nhất có lẽ là đối diện NinoMaxx. Đối diện Zen cũng có một chỗ, nhưng ngồi đây hơi đau tai vì bên kia hay mở nhạc ầm ầm. Có hôm mở Mỹ Tâm cả tối.

***

Nguyễn Trãi, khúc gần Nguyễn Cư Chinh, có một tiệm Mì Quảng to đùng. Chưa vào bao giờ. Mì quảng là thứ ăn dễ bị nhớ. Ăn một vài lần mà nhớ mãi về sau. Nhưng nghe nói cái mì này, ở đúng xứ quảng, thì khác hẳn cái mì quảng ở Sg.

***

Mãi vẫn chưa ra được cái bài Hòn Ngọc Viễn Đông để đáp lễ  kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn.

Có ai biết bến Bình Đông ở đâu?

***

→ 9 phản hồiChuyên mục: nhảm
Thẻ:

Cháo trắng ở đâu

Tháng Một 5, 2010 · 13 phản hồi

Đêm qua đói quá mới mò ra Lý Chính Thắng ăn cháo trắng. Hóa ra không còn bán cháo trắng ở đây nữa. Lại phải đi lên tận Hàng Xanh để ăn.

Có ai biết chỗ nào bán cháo trắng ngon hơn Hàng Xanh và gần hơn Hàng Xanh không, chỉ tôi với. Hoặc dẫn đi ăn được thì càng tốt, hehe.

Mới đọc bài này. Đọc xong thấy khó chịu ghê. Làm người ai lại nghĩ về một thành phố một cách thô và vô cảm như vậy. Mà người viết còn là KTS nữa chứ. Tính viết 1 entry về việc này mà đầu óc u ám quá. Để từ từ vậy. Giờ ưu tiên số 1 là tìm chỗ có cháo trắng ngon và gần phòng khi bữa chiều ăn ít mà tối lại phải uống nhiều.

PS:

+ Hehe, có ai hỏi “muốn ai dẫn đi”. Thẳng thắn mà nói thì tất nhiên gái xinh dẫnđi thì hơn giai dẫn đi rồi. Nhà anh ở Nguyễn Thiện Thuật Q3, nên mấy chỗ gần An Dương Vương chắc là hợp.

→ 13 phản hồiChuyên mục: đời
Thẻ:

Sự thờ ơ…Alternative …(p4)

Tháng Mười Hai 28, 2009 · 2 phản hồi

Phần 1: Khởi Thủy Là Lời

Phần 2: Thờ Ơ Đừng Là Bản Năng

Phần 3: Alternative Rock cho Chinese Democracy

Phần 4: Bản kinh kịch “Vua và Tôi” với version Alternative Rock

Câu chuyên Vua và Tôi. Câu chuyện này được nhìn nhận với con mắt của xác suất, có lẽ là rất thú vị, tuy nhiên cách tiếp cận cả ngôn lẫn ngữ bị lạc hậu quá nhiều. Vua sáng tôi hiền vẫn là cách tiếp nhận chính trị khi đặt vua vào vị trí là người anh minh còn quan là người ngoan chỉ có việc làm theo. Cách tiếp cận này không chỉ có màu sắc chính trị mà còn là chính trị phong kiến. Cái tệ nhất của phong kiến là cách tiếp cận tàn nhẫn: dân thì ngu và vua cần anh minh để dẫn dắt dân đen sống cuộc sống thái bình. Với một đám vua sáng tôi hiền thì nhân dân cứ thế mà sống, như cừu vậy, thiên hạ thái bình như giấc mơ của anh hùng thảo khấu Tống Giang.

Nếu tiếp cận một cách khác, ví dụ cách tiếp cận hành động, thì vua có khi chỉ cần hiền mà tôi mới cần sáng. Vì cái người hiền, muốn công bằng cho nhân dân, thì phải làm vua, còn người ra tay hành động dựng nên cái khung để vận hành chủ trương đấy phải là những người sáng.

Quay trở lại Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Minh năm 1946. Nếu chịu khó đọc ‘thật kỹ’ lịch sử thời kỳ này ta sẽ thấy đây là năm hào hùng nhất của cuộc cách mạng do Việt Minh lãnh đạo, năm đẹp đẽ nhất của nhân dân, đặc biệt là trí thức và thị dân, và là năm rực sáng nhất của Hồ Chí Minh. Đó là bởi các lãnh tụ Việt Minh chỉ sử dụng chính trị như một lực lượng làm cách mạng, chứ không phải tư tưởng cho một cuộc cách mạng bước ra ánh sáng bằng bản Tuyên Ngôn Độc Lập rộng mở đến như vậy.

Câu chuyện của sư cụ Hinh thực ra dễ thông cảm bởi vẫn là văn tàu (thực ra Hàn Phi Tử tiếp cận chuyện vua-tôi khác hẳn). Để hiểu “Vua hiền Tôi sáng” không cần sự trải nghiệm mà cần một sự tìm hiểu cặn kẽ lịch sử, bằng cách bóc lớp vỏ huyền thoại do ngôn và ngữ tạo nên, nhất là với nước ta, phần phần lớn lịch sử truyền tải đến ngày nay bằng ngôn nhiều hơn ngữ.

Cái kết luận mơ màng của chuyện Vua và Tôi sẽ được giải quyết nếu như người ta có cách tiếp cận các khái niệm xã hội của phương tây, như democracy, một cách phi chính trị. Bắt đầu từ tiếp cận, sau đến trải nghiệm rồi cuối cùng mới đi vào ngôn ngữ. Khi ngôn ngữ tự nó vững chắc về nghĩa rồi thì  các khái niệm xã hội mà nó chuyên chở  vào tâm trí người dân sẽ là một điểm huyệt hóa giải nhiều thứ vướng mắc. Lúc đó việc của sỹ phu không còn là dâng sớ mà phải là mở rộng biên giới của ngôn-ngữ. Chuyện hiền hay sáng cũng không quan trọng nữa khi mọi việc cứ thế mà tuôn theo lẽ tự nhiên. Nền tảng đời sống mới tự nhiên được bồi đắp, ở đó tự nó sẽ có công bằng và văn minh.

Khởi thủy là Lời, nhưng để Lời trở thành nền tảng trong tâm trí, như là một bản năng thúc đẩy hành động thì cần cả một quá trình dài. Từ ngôn đến ngữ rồi chuyển thành hành động là một quá trình chuyển biến chứa vô số bước nhảy lượng tử của nhận thức. Xuyên suốt quá tình này, cả xã hội phải tự đào bới du nhập ngôn ngữ, triết thuyết, tự mở cửa đi khắp nơi trên thế giới, tự chiêm nghiệm lịch sử và quá khứ của chính mình,  tự mình phải có tiến bộ nhất định về nhận thức bằng cách nhìn vào thất bại, vào chính sự thờ ơ đang có nguy cơ trở thành một bản năng lạnh cóng.

→ 2 phản hồiChuyên mục: nhảm
Thẻ: